Em xin nêu rõ vấn đề như sau: cách nay bốn tháng gia đình em xảy ra một vụ tai nạn đáng tiếc, tai nạn giao thông ấy đã cướp đi mạng sống của ông Chín được gây ra bởi đối tượng A. Ngay sau đó vụ tai nạn được giải quyết bởi công an huyện:

Kết luận từ phía cơ quan chức năng huyện: cả hai đều có nông độ cồn. Tuy nhiên, nồng độ cồn của ông chín là không đáng kể, nồng độ cồn của đối tượng A là vượt quá mức quy định cho phép. Sau khi mai táng, một thời gian ngắn sau, bất giác gia đình được công an huyện mời gọi ra nhận một khoảng tiền là 140.000.000đ ( một trăm bốn mươi triệu đồng chẵn ), tuy nhiên không xác định rõ cụ thể từng khoảng tiền trong phần tiền trên là do đâu, ở đâu và như thế nào. Người nhận tiền là con trai trưởng của ông Chín, trình độ về pháp luật không cao, nên chỉ biết nge theo sự sắp xếp nơi cơ quan. Cho tới thời điểm hiện tại, gia đình hay tin, đối tượng A chỉ bị án treo là một năm rưỡi ( tức 18 tháng ), xét thấy tính chất vụ việc có tính chất nghiêm trọng chết người, kết luận cuối cùng không được thỏa đáng gia đình em quyết định khởi kiện vụ án lên cơ quan cấp cao, tuy nhiên gia đình rất cần sự tư vấn hỗ trợ từ các luật sư để có đầy đủ tinh thần, tính pháp lý, đường đi và nước bước nhằm đòi lại tính công lý cho nạn nhân là ông chín được an nghĩ.

Vụ án kết luật đối tượng A chỉ bị án treo với những lý do: do gia đình ông chín trước đây đã làm giấy xin giảm tội hình sự cho đối tượng A.; cha ruột của đối tượng a từng có ba năm tham gia cách mạng ở Campuchia trong nạn diệt chủng polpot. Nhưng bản thân người đã mất trong vụ tai nạn là ông Chín:  đã từng có 30 năm tuổi đảng, là chủ tịch ủy ban nhân dân xã; gia đình có công với cách mạng.

Nhận thấy có những câu chuyện bất hợp lý trong vụ việc của gia đình em, tuy nhiên gia đình đang trong trạng thái vô cùng đau xót, chới với và hoang mang vì không hiểu rõ sự việc đã, đang và sẽ đi về đâu.

Vậy nên rất mong sự tư vấn từ công ty luật minh khuê để gia đình có thể tìm một hướng đi đúng đắn đòi lại công lý cho người đã mất, gia đình chúng tôi vô cùng cảm kích và xin chân thành cám ơn 

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Trước tiên, chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình bạn. Vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

- Về vấn đề trách nhiệm hình sự:

Theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội vi phạm quy định giao thông đường bộ được quy định như sau:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo như thông tin bạn cung cấp, đối tượng A đã gây ra tai nạn khiến ông Chín tử vong và nồng độ cồn vượt mức quy định cho phép. Căn cứ theo quy định nêu trên, đối tượng A có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc khoản 2 Điều luật trên, như vậy mức hình phạt có thể từ 3 đến 10 năm tù. 

Vấn đề ở đây là bạn cần làm rõ và chứng minh số tiền 140.000.000 đồng mà con trai ông Chín nhận được kia có bị ép buộc hay không? Và gia đình bạn có viết đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho đối tượng A hay không? Nếu số tiền kia bị ép buộc và gia đình không viết đơn thì đối tượng A sẽ không được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 

Ngoài ra, căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, đối tượng A nếu không có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Tòa án  không thể quyết định hình phạt thấp hơn khung hình phạt mà đối tượng A phải chịu.

- Về vấn đề kháng cáo:

Nếu thấy bản án đối với đối tượng A còn quá nhẹ, chưa thỏa đáng thì bạn hoàn toàn có quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm theo căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: "Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm".

Theo đó, thủ tục kháng cáo theo quy định tại Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

1. Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.

Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.

Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.

2. Đơn kháng cáo có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;

c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;

d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.

Và thời hạn kháng cáo căn cứ theo Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

3. Ngày kháng cáo được xác định như sau:

a) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;

b) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ thì ngày kháng cáo là ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ nhận được đơn. Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận vào đơn;

c) Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo không mang tính chất thương mại.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê