Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc xác định chính xác thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là căn cứ trực tiếp để tính số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Một trong những nội dung cốt lõi ảnh hưởng đến việc xác định thu nhập chịu thuế chính là việc phân định các khoản chi được trừ và không được trừ. Pháp luật thuế hiện hành đã quy định cụ thể, chặt chẽ về các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được tính vào chi phí được trừ cũng như những khoản chi không đáp ứng điều kiện sẽ bị loại trừ khi tính thuế. Việc nắm rõ các quy định này không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật mà còn tối ưu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
1. Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Theo khoản 1 điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Khi xác định thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp được phép trừ các khoản chi nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định, trừ những khoản chi bị loại trừ theo khoản 2 Điều này. Việc trừ các khoản chi không chỉ giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ thuế một cách hợp pháp mà còn phản ánh đúng chi phí thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các khoản chi được phép trừ bao gồm những khoản chi trực tiếp phục vụ sản xuất, kinh doanh, chi cho nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, các khoản chi xã hội, phúc lợi, quốc phòng, an ninh và các khoản chi đặc thù liên quan đến các mục tiêu cộng đồng, môi trường hoặc hỗ trợ các chính sách của Nhà nước. Đồng thời, các khoản chi này phải được ghi nhận đầy đủ, minh bạch và hợp pháp trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tuân thủ quy định về quản lý thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong việc kiểm tra, giám sát.
Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:
- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
- Khoản chi thực tế phát sinh khác, bao gồm:
- Khoản chi cho thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh, huấn luyện, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ và phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khác theo quy định của pháp luật;
- Khoản chi hỗ trợ phục vụ cho hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp;
- Khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật;
- Khoản chi thực tế cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS nơi làm việc của doanh nghiệp;
- Khoản tài trợ cho giáo dục, y tế, văn hóa; khoản tài trợ cho phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, làm nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa, nhà cho các đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật; khoản tài trợ theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dành cho các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khoản tài trợ cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;
- Khoản chi cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;
- Phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường;
- Khoản chi thực tế cho người được biệt phái tham gia quản trị, điều hành, kiểm soát tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, ngân hàng thương mại được chuyển giao bắt buộc theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;
- Một số khoản chi phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhưng chưa tương ứng với doanh thu phát sinh trong kỳ theo quy định của Chính phủ;
- Một số khoản chi hỗ trợ xây dựng công trình công cộng, đồng thời phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
- Chi phí liên quan đến việc giảm phát thải khí nhà kính nhằm trung hòa các-bon và net zero, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
- Một số khoản đóng góp vào các quỹ được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và quy định của Chính phủ;
- Các khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
Việc xác định và thực hiện đúng các khoản chi được trừ không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nghĩa vụ thuế một cách hợp pháp mà còn phản ánh chính xác chi phí thực tế trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, các quy định này đảm bảo sự minh bạch, trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp với cơ quan thuế, góp phần tạo ra môi trường quản lý tài chính công bằng và bền vững, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện.
2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo khoản 2 Điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Khi xác định thu nhập chịu thuế, không phải tất cả các khoản chi mà doanh nghiệp thực hiện đều được phép trừ. Có nhiều khoản chi, mặc dù phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc hoạt động của doanh nghiệp, nhưng nếu không đáp ứng các điều kiện pháp lý, vượt quá giới hạn cho phép, hoặc có tính chất phúc lợi, thưởng, trích lập không đúng quy định, thì sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Việc loại trừ những khoản chi này nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong quản lý thuế, tránh lạm dụng chi phí để giảm nghĩa vụ thuế một cách không hợp pháp, đồng thời bảo vệ nguồn thu của ngân sách nhà nước và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:
- Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
- Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;
- Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;
- Phần chi vượt mức do Chính phủ quy định đối với: chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam; chi phí thuê quản lý hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh casino; chi trả lãi tiền vay của doanh nghiệp có giao dịch liên kết; chi có tính chất phúc lợi trực tiếp cho người lao động; khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hoặc quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động;
- Phần trích lập không đúng hoặc vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng;
- Khoản trích khấu hao tài sản cố định không đúng hoặc vượt mức quy định của pháp luật;
- Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật;
- Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ; thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán chi khác để chi trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật;
- Phần chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu; lãi tiền vay trong quá trình đầu tư đã được ghi nhận vào giá trị đầu tư; lãi vay để triển khai thực hiện các hợp đồng tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng vượt mức theo quy định của Bộ luật Dân sự;
- Phần chi phí được phép thu hồi vượt quá tỷ lệ quy định tại hợp đồng dầu khí được duyệt; trường hợp hợp đồng dầu khí không quy định về tỷ lệ thu hồi chi phí thì phần chi phí vượt trên mức do Chính phủ quy định không được tính vào chi phí được trừ;
- Phần thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ; thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ; thuế giá trị gia tăng đầu vào của phần giá trị xe ô tô chở người từ 09 chỗ ngồi trở xuống vượt mức do Chính phủ quy định; thuế thu nhập doanh nghiệp; các khoản thuế, phí, lệ phí, thu khác không được tính vào chi phí theo quy định của pháp luật và tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Phần thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ quy định tại điểm này không bao gồm phần thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đầu vào có liên quan trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa được khấu trừ hết nhưng không thuộc trường hợp hoàn thuế.
Số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi đã được tính vào chi phí được trừ thì không được khấu trừ với số thuế giá trị gia tăng đầu ra;
- Khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
- Khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ quy định tại tiểu điểm b5 điểm b khoản 1 Điều này;
- Chi về đầu tư xây dựng cơ bản trong giai đoạn đầu tư để hình thành tài sản cố định; chi liên quan trực tiếp đến việc tăng, giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp;
- Các khoản chi của hoạt động kinh doanh: ngân hàng, bảo hiểm, xổ số, chứng khoán, hợp đồng BT, BOT, BTO không đúng hoặc vượt mức quy định của pháp luật;
- Các khoản chi khác.
Việc xác định rõ ràng các khoản chi không được trừ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản lý thuế. Nó không chỉ giúp cơ quan thuế kiểm soát nguồn thu một cách chính xác, mà còn buộc doanh nghiệp phải lập kế hoạch chi tiêu hợp lý, tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật và sử dụng nguồn lực tài chính một cách hiệu quả. Đồng thời, việc loại trừ những khoản chi này góp phần hạn chế rủi ro phát sinh tranh chấp về thuế, thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch, bền vững và công bằng cho tất cả các tổ chức tham gia thị trường, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình tài chính của doanh nghiệp với xã hội và Nhà nước.
3. Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có được trừ thuế thu nhập doanh nghiệp không?
Theo khoản 4 Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Khi một doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đầu tư ra nước ngoài và phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, pháp luật Việt Nam quy định rằng doanh nghiệp được trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp tại nước ngoài vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Quy định này được xây dựng nhằm mục đích tránh đánh thuế hai lần trên cùng một khoản thu nhập, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư, liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài.
Cụ thể, doanh nghiệp chỉ được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài không vượt quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với cùng khoản thu nhập đó. Điều này vừa bảo đảm nghĩa vụ thuế đầy đủ tại Việt Nam, vừa giúp doanh nghiệp không phải chịu gánh nặng thuế kép, nâng cao hiệu quả kinh tế của khoản đầu tư. Việc áp dụng quy định này đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về hồ sơ, chứng từ, bao gồm các giấy tờ chứng minh số thuế đã nộp tại nước ngoài, báo cáo thuế của cơ quan quản lý nước sở tại, hợp đồng đầu tư và các tài liệu liên quan khác.
Ngoài ra, cơ chế trừ thuế này cũng có ý nghĩa về mặt quản lý nhà nước và minh bạch tài chính. Nó giúp cơ quan thuế Việt Nam xác định đúng nghĩa vụ thuế, tránh thất thu ngân sách, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước. Đối với doanh nghiệp, việc nắm vững các quy định về trừ thuế khi đầu tư ra nước ngoài giúp hoạch định chiến lược tài chính, tối ưu hóa chi phí, đồng thời đảm bảo các khoản thuế nộp vào ngân sách Việt Nam phản ánh chính xác hiệu quả kinh doanh thực tế.
Như vậy, quy định về trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài không chỉ là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình mở rộng thị trường quốc tế, mà còn là biện pháp bảo đảm công bằng, minh bạch và hiệu quả trong quản lý thuế, vừa khuyến khích đầu tư, vừa bảo vệ nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Kết luận
Quy định về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý trong quản lý thuế, bảo đảm tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp. Việc áp dụng đúng các quy định này giúp doanh nghiệp xác định chính xác nghĩa vụ thuế, hạn chế rủi ro pháp lý và tránh các sai sót trong quá trình kê khai, quyết toán thuế. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, quản lý chi phí một cách hợp lý và hướng tới sự phát triển ổn định, bền vững trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.