Khi thôi việc Công ty mới đã trả tiền trợ cấp từ Tháng 12/2001 đến nay. Phần còn lại tôi làm việc từ 1985 đến 2001 tại Tổng  Công Ty Sông Đà thì ai là người chịu trách nhiệm trả cho tôi. Nhờ Luật sư tư vấn để tôi nhận được tiền trợ cấp được thuận lợi hơn. Cám ơn Luật sư.

Người gửi: Phương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê

trợ cấp thôi việc

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật lao động 2012

2. Nội dung phân tích:

Với sự kiện tháng 12/2001 bạn chuyển sang làm việc tại Tổng công ty cà phê Việt Nam đã chỉ ra rằng Hợp đồng lao động giữa bạn và Tổng công ty Sông Đà đã chấm dứt. Theo tôi về bản chất sẽ là trường hợp bạn và Công ty Sông Đà thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, và sau đó bạn ký kết hợp đồng lao động khác với Công ty Cà Phê Việt Nam. Theo đó, có hai quan hệ lao động bị chấm dứt ở đây.

Hợp đồng thứ nhất: giữa bạn và Công ty Sông Đà từ năm 1985 đến 2001

Hợp đồng thứ hai: giữa bạn và công ty Cà phê Việt Nam từ 2001 đến nay.

Theo đó, chúng ta giải quyết vụ việc này như sau:

+ Đối với hợp đồng thứ nhất:

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

Căn cứ vào Điều 36. BLLĐ 1994

Hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp sau đây:

1- Hết hạn hợp đồng;

2- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng;

3- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng;

4- Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công việc cũ theo quyết định của Toà án;

5- Người lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Toà án.

Căn cứ vào Điều 42 BLLĐ 1994

1- Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có

Như vậy, đối với hợp đồng thứ nhất này, khi chấm dứt. Tổng công ty Sông Đà sẽ là chủ thể có trách nhiệm chi trả tiền trợ cấp cho bạn.

>> Xem thêm:  Hình thức kỷ luật sa thải và buộc thôi việc khác nhau ở điểm nào ?

+ Đối với hợp đồng thứ hai:

Căn cứ vào Điều 48 BLLĐ 2012 về Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Điều 36 BLLĐ 2012 quy định các trường hợp như sau:

Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  So sánh sự khác nhau giữa trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp mất việc làm ?

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Theo đó, Tổng Công ty Cà Phê Việt Nam sẽ là công ty chi trả khoản tiền trợ cấp thứ hai này.

Lưu ý rằng mỗi khoản trợ cấp thôi việc sẽ được tính trên khoảng thời gian làm việc tương ứng cho mỗi công ty.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Nếu còn những nội dung vướng mắc, bạn vui lòng gọi vào tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người lao động bị tạm giam có được coi là lý do để công ty chấm dứt hợp đồng lao động ?

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người lao động bị kết án tù giam thì công ty có quyền chấm dứt hợp đồng lao động không?