Từ đầu năm đến nay tôi vẫn ra chi cục thuế xin cấp hóa đơn bán lẻ bình thường, nhưng đến thang 8 -2015 tôi ra chi cục thuế xin cấp hóa đơn thì được nhân viên cho biết, sẽ không cấp hóa đơn cho tôi nữa, vì hợp đồng của tôi bao gồm cả lái xe nên không cấp được, phải là hợp đồng thuê xe khô, không có lái thì mới được cấp ( theo thông tư mới của Tổng cục thuế ).

Tôi xin được hỏi có đúng như vậy không? Và tôi phải giải quyết hợp đồng thuê xe như thế nào?

Xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: X.Đ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời: 

Chào anh, cảm ơn anh đã gửi thắc mắc của mình đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin anh cung cấp xin được tư vấn cho anh như sau:

Cơ sở pháp lý

- Thông tư 39/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

- Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá n hân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế 71/2014/QH13 và Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế do Bộ trưởng bộ tài chính ban hành.

Nội dung phân tích

Theo Điều 13 Thông tư 39/2014/TT-BTC có quy định về việc cấp hóa đơn lẻ như sau:

Điều 13. Cấp hóa đơn do Cục Thuế đặt in

1. Cơ quan thuế cấp hóa đơn cho các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng.

Trường hợp tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc thuộc trường hợp không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng thì cơ quan thuế không cấp hóa đơn.

2. Hóa đơn do cơ quan thuế cấp theo từng số tương ứng với đề nghị của tổ chức, hộ và cá nhân không kinh doanh gọi là hóa đơn lẻ.

Tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng được cơ quan thuế cấp hóa đơn lẻ là loại hóa đơn bán hàng.

Trường hợp doanh nghiệp sau khi đã giải thể, phá sản, đã quyết toán thuế, đã đóng mã số thuế, phát sinh thanh lý tài sản cần có hóa đơn để giao cho người mua được cơ quan thuế cấp hóa đơn lẻ là loại hóa đơn bán hàng.

Riêng đối với tổ chức, cơ quan nhà nước không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có bán đấu giá tài sản, trường hợp giá trúng đấu giá là giá bán đã có thuế giá trị gia tăng được công bố rõ trong hồ sơ bán đấu giá do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp hóa đơn giá trị gia tăng để giao cho người mua.

3. Cơ quan thuế cấp hóa đơn lẻ cho việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được xác định như sau:

- Đối với tổ chức: Cơ quan thuế quản lý địa bàn nơi tổ chức đăng ký mã số thuế hoặc nơi tổ chức đóng trụ sở hoặc nơi được ghi trong quyết định thành lập.

- Đối với hộ và cá nhân không kinh doanh: Cơ quan thuế quản lý địa bàn nơi cấp mã số thuế hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trên sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu) còn hiệu lực hoặc nơi cư trú do hộ, cá nhân tự kê khai (không cần có xác nhận của chính quyền nơi cư trú).

Trường hợp tổ chức, hộ và cá nhân không kinh doanh có bất động sản cho thuê thì cơ quan thuế quản lý địa bàn có bất động sản thực hiện cấp hóa đơn lẻ”.

Chiếu theo quy định trên thì khi anh có hoạt động cho thuê tài sản, khi doanh thu của anh đạt ngưỡng chịu thuế thì anh sẽ được cấp hóa đơn bán lẻ.

Điều 4 Thông tư 92/2015/TT-BTC cũng quy định về mức doanh thu chịu thuế như sau:

“b) Đối với cá nhân cho thuê tài sản thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là tổng doanh thu phát sinh trong năm dương lịch của các hợp đồng cho thuê tài sản.”

Bên cạnh đó, việc xác định doanh thu được thực hiện Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 92/2014/TT-BTC như sau:

“a.1) Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác không bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường mà bên cho thuê nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê.

a.2) Doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường mà bên cho thuê nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê.”

Như vậy, doanh tính thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác.

Việc anh lái xe cho công ty này có hai hình thức thể hiện: Thứ nhất là anh cung ứng dịch vụ lái xe có kèm theo phương tiện vận tải theo hình thức hợp tác kinh doanh; thứ hai là anh cho công ty thuê xe (trường hợp này không được xác định là hợp tác kinh doanh). Vì anh cung cấp thông tin là anh ký với công ty hợp đồng cho thuê xe nên sẽ không xét tới hình thức thứ nhất (cung ứng dịch vụ lái xe có kèm Theo phương tiện vận tải). Như vậy, do anh ký hợp đồng cho thuê xe nên sẽ theo hình thức thứ hai là cho thuê tài sản nên số tiền anh được trả đối với hoạt động lái xe được coi là “khoản thu khác” khi tính doanh thu tính thuế TNCN và GTGT.

Và theo như hợp đồng thuê thì giá trị hợp đồng là 25 (hai mươi lăm) triệu đồng/1 tháng, doanh thu tính thuế 1 năm sẽ là 300 (ba trăm) triệu đồng (lớn hơn 100 triệu đồng) nên anh phải nộp thuế khi cho thuê tài sản và anh sẽ được cơ quan thuế cấp hóa đơn bán lẻ theo quy định tại Điều 13 thông tư 39/2014/TT-BTC.

Bên cạnh đó, về việc chi cục thuế trả lời anh là có chính sách thuế mới từ tháng 08/2015, tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại, trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn chưa có thêm thông tư hay công văn nào hướng dẫn chi tiết về việc chỉ hợp đồng thuê xe khô mới được cấp hóa đơn. Vì vậy, anh có thể làm đơn kiến nghị lên chị cục thuế và yêu cầu trả lời bằng văn bản cũng như trích dẫn cơ sở pháp lý về việc cơ quan thuế không tiếp tục cấp hóa đơn cho anh.

Về giải quyết hợp đồng thuê của anh: Đối với hợp đồng thuê này, anh không bắt buộc phải chỉnh lý vì kể cả khi anh vẫn giữ hợp đồng thì anh vẫn được cấp hóa đơn. Tuy nhiên, anh cũng có thể chỉnh lý hợp đồng đó thành hợp đồng cho thuê xe riêng và hợp đồng thuê lái xe riêng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của anh, cảm ơn anh đã tin tưởng công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ