1. Tư vấn về hành vi trốn thuế ?

Thưa luật sư! Ngày 07-2014 Tôi có sang nhượng 1 tiệm net game ở địa điểm kinh doanh A và chuyển giấy phép kinh doanh từ chủ trước sang tôi, giấy phép mang họ tên tôi đăng kí với hạng mục dịch vụ cung cấp trò chơi điện tử công cộng, vốn ghi trong giấy phép kinh doanh là 20 triệu. Đến 12-2016 tôi đổi giấy phép địa điểm kinh doanh A sang địa điểm kinh doanh B. Nhưng -03-2016 Tôi hoàn toàn nghĩ kinh doanh vì lý do thua lỗ nặng.
Lưu ý đặc biệt từ 07-2014 đến 03-2016, tôi hoàn toàn không có đóng thuế hoặc truy thu các hạng mục nào về thuế, lý do không hiểu về thuế nên chưa có báo thuế hoặc đóng thuế. Tôi muốn hủy giấy phép kinh doanh, thì phòng đăng kí kinh doanh bảo rằng "anh phải hoàn thuế xong mới hủy được" ?

Xin hỏi:

1.Tôi cần lời khuyên từ luật sư: các bước như thế nào, để tôi hủy được giấy phép. Vốn dĩ tôi có hỏi thăm các bạn học làm kế toàn, thì hoàn thuế tốn 100-200 triệu, nhưng số tiền đó tôi không có để trả thuế.

2. Tôi có bị xem là hành vi trốn thuế không ? có bị ngồi tù do không có tiền nộp thuế không?

Cảm ơn luật sư:

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp qua tổng đài 24/7: gọi 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi tư vấn đến Bộ phận tư vấn pháp luật của Luật Minh Khuê, thắc mắc của anh, chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ cung cấp trò chơi điện tử công cộng, cần phải thực hiện nghĩa vụ nộp các loại thuế sau:

+ Thuế Môn bài: Các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế môn bài đối với hoạt động kinh doanh của mình. Doanh nghiệp tư nhân, công ty liên danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần trả thuế môn bài căn cứ trên số vốn đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư.

+ Thuế giá trị gia tăng;

+ Thuế thu nhập cá nhân, hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, đối với hành vi không nộp thuế của anh, chúng tôi phân tích như sau:

Căn cứ theo Thông tư 166/2013/TT-BTC Quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định, tại Điều 1, Khoản 3:

3. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế, bao gồm:

a) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế:

Hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế: hành vi chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định; hành vi khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ khai thuế; hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định; hành vi vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế; hành vi vi phạm trong việc chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.

Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn.

Hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

b) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của tổ chức tín dụng và tổ chức, cá nhân khác có liên quan:

Hành vi thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế, gian lận thuế;

Hành vi không thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

Hành vi không cung cấp hoặc cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; tài khoản của người nộp thuế nợ thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước theo quy định của Luật quản lý thuế.

Trường hợp của anh, không thực hiện bất kỳ hành vi nào liên quan về thuế, có thể bị coi là hành vi trốn thuế theo các căn cứ tại Thông tư này.

Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của pháp luật bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận như sau:

1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế gian lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên khi có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 Luật quản lý thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật quản lý thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 9 Thông tư này và Khoản 9 Điều này.

b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hóa đơn, chứng từ; hóa đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

c) Lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa hoặc giảm số lượng, giá trị vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.

d) Lập hóa đơn sai về số lượng, giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tế.

đ) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không kê khai, kê khai sai, không trung thực làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm.

e) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế.

g) Sử dụng hàng hóa được miễn thuế, xét miễn thuế (bao gồm cả không chịu thuế) không đúng với mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế.

h) Sửa chữa, tẩy xoá chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

i) Hủy bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

k) Sử dụng hóa đơn, chứng từ, tài liệu không hợp pháp trong các trường hợp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế phát sinh số thuế trốn, số thuế gian lận.

l) Người nộp thuế đang trong thời gian xin tạm ngừng kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh.

m) Hàng hóa vận chuyển trên đường không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.

2. Phạt tiền 1,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế khi có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần đầu, có tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ hai, có một tình tiết giảm nhẹ.

3. Phạt tiền 2 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế khi có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ hai mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vi phạm lần thứ ba và có một tình tiết giảm nhẹ.

4. Phạt tiền 2,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế khi có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ hai mà có một tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ ba mà không có tình tiết giảm nhẹ.

5. Phạt tiền 3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế khi có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết tăng nặng trở lên hoặc vi phạm lần thứ ba có tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm từ lần thứ tư trở đi.

6. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế bị xử phạt quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, gian lận vào ngân sách nhà nước.

Số tiền thuế trốn, gian lận theo quy định tại Điều này là số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản, kết luận kiểm tra, thanh tra.

7. Các hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, Khoản 1 Điều này bị phát hiện trong thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế hoặc bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, nhưng không làm giảm số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn, không làm tăng số thuế miễn, giảm và không thuộc trường hợp bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.

8. Trường hợp người nộp thuế đang thuộc diện được miễn thuế, được hoàn thuế theo quy định của pháp luật, kê khai không đúng căn cứ xác định số thuế được miễn, số thuế được hoàn nhưng không làm thiệt hại đến số thuế của ngân sách nhà nước thì không bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế mà xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định ở Điều 8 Thông tư này với mức phạt cao nhất.

9. Trường hợp, người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, đã tự giác nộp đầy đủ số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế thì bị xử phạt về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế quy định Khoản 6, Điều 9 Thông tư này. Trường hợp, người nộp thuế đã nộp hồ sơ khai thuế nhưng khai sai, gian lận thuế dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, gian lận, trốn thuế thì ngoài việc bị xử phạt về thủ tục thuế còn bị xử phạt về khai thiếu thuế hoặc trốn thuế theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư này.

10. Trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai đang trong thời hạn hưởng ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bị phát hiện có hành vi vi phạm như khai sai làm tăng khống chi phí để tăng số lỗ, để giảm lãi; giảm chi phí để tăng lãi và xác định không đúng các điều kiện để được hưởng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thì:

a) Nếu vi phạm được kiểm tra phát hiện ngay trong thời gian đang được ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thì không xử phạt về hành vi trốn thuế mà thực hiện xử phạt vi phạm về thủ tục thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán;

b) Nếu vi phạm chưa được kiểm tra phát hiện mà cá nhân, tổ chức không tự điều chỉnh hậu quả làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp của năm tiếp sau khi hết thời hạn được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế.

Trường hợp của anh thuộc điểm a Khoản 1 Điều này, tùy mức độ vi phạm mà anh có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ Bộ Luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:

Điều 169. Tội trốn thuế.

Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Tóm lại, trường hợp của anh, căn cứ vào mức thuế mà anh chưa thực hiện, để xác định trách nhiệm chi trả thuế và trách nhiệm hình sự cho hành vi trốn thuế của anh.

Để được chấm dứt hoạt động kinh doanh, anh phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế đối với cơ quan Nhà nước.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng/.

>> Xem thêm:  Thuế giá trị gia tăng là gì ? Quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng

2. Thủ tục hoàn thuế sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại ?

Ngày 04 tháng 11 năm 2011, Tổng Cục Thuế (Bộ Tài Chính) ban hành Công văn 3971/TCT-KK thủ tục hoàn thuế sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại với nội dung cụ thể:

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3971/TCT-KK
V/v thủ tục hoàn thuế sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại

Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2011

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa

Trả lời công văn số 5900CT/THNVDT ngày 10/10/2011 của Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa về việc hoàn thuế sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 118 Luật Quản lý thuế, Khoản 3 Điều 45 Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Khoản 1 Điều 63 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ;

Căn cứ hướng dẫn tại Điểm 6.4.1 Mục I Phần B Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước;

Căn cứ các quy định trên, trường hợp người nộp thuế được cơ quan thuế ra quyết định giải quyết khiếu nại dẫn tới số tiền thuế, tiền phạt phải nộp theo quyết định giải quyết khiếu nại thấp hơn số tiền thuế, tiền phạt đã nộp theo quyết định xử lý của cơ quan thuế trước đó thì cơ quan thuế phải hoàn trả số tiền thuế, tiền phạt thu không đúng và trả lãi tính trên số tiền nộp thừa này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định giải quyết khiếu nại. Trường hợp này, cơ quan thuế căn cứ quyết định giải quyết khiếu nại để ra quyết định hoàn thuế, không xử lý bù trừ với số tiền thuế, tiền phạt còn nợ (trừ trường hợp người nộp thuế có văn bản đề nghị bù trừ nợ thuế), không yêu cầu người nộp thuế lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa và thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn (để báo cáo);
- Vụ Pháp chế (BTC);
- Các Vụ, đơn vị thuộc Văn phòng TCT;
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Lưu: VT, KK.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Vũ Văn Trường

>> Xem thêm:  Luật thuế giá trị gia tăng là gì ? Phân tích các đặc điểm luật thuế giá trị gia tăng

3. Điều kiện, thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) ?

Ngày 29 tháng 5 năm 2003, Tổng Cục Thuế (Bộ Tài Chính) ban hành Công văn 1839 TCT/NV7 điều kiện, thủ tục hoàn thuế GTGT với nội dung cụ thể:

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1839 TCT/NV7
V/v Điều kiện, thủ tục hoàn thuế GTGT

Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2003

Kính gửi: Hiệp Hội cây điều Việt Nam.

Tổng cục thuế nhận được công văn số 12/CV .VINACAS ngày 10/4/2003 của Hiệp hội cây Điều Việt Nam hỏi về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng nông sản xuất khẩu qua Trung Quốc; Về việc này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Điều kiện, thủ tục được hoàn thuế GTGT đối với hàng nông sản xuất khẩu trước thời điểm tháng 10 năm 2002 được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính, cụ thể sau đây:

+ Hợp đồng bán hàng hoá hoặc hợp đồng gia công, sản xuất hàng xuất khẩu ký với nước ngoài, hợp đồng uỷ thác xuất khẩu đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu.

+ Hoá đơn GTGT bán hàng hoặc xuất trả hàng gia công cho nước ngoài, doanh nghiệp chế xuất và cho các đối tượng khác được xác định như xuất khẩu theo quy định của Chính phủ.

+ Chứng từ thanh toán tiền hoặc chứng từ xác nhận thanh toán của khách hàng nước ngoài hoặc doanh nghiệp chế xuất.

+ Tờ khai hải quan về hàng xuất có xác nhận hàng đã xuất khẩu của cơ quan hải quan. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì phải có tờ khai hải quan về hàng hoá xuất khẩu của bên nhận uỷ thác, nếu là bản sao phải có đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu ký, đóng dấu.

- Và tại công văn số 10216 TC/TCT ngày 26/10/2001 của Bộ Tài chính đã nêu rõ thêm về chứng từ thanh toán hàng hoá bán cho thương nhân nước ngoài phải phù hợp với quy định trong hợp đồng mua bán và quy định của ngân hàng Nhà nước về đồng tiền, phương thức thanh toán...

- Từ ngày 01 tháng 10 năm 2002 trở đi, điều kiện, thủ tục để được hoàn thuế GTGT đối với hàng nông sản xuất khẩu được thực hiện theo Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 122/2000/TT-BTC nêu trên, trong đó có quy định điều kiện hàng hoá xuất khẩu được hoàn thuế GTGT phải thanh toán qua ngân hàng. Việc thanh toán và chứng từ thanh toán đối với hàng hoá xuất khẩu được thực hiện theo công văn số 1186/NHNN-QLNH ngày 01/11/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tổng cục thuế thông báo để Hiệp hội cây điều biết và hướng dẫn các đơn vị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.

KT TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG



Phạm Duy Khương

>> Xem thêm:  Thuế quan là gì ? Nguồn của pháp luật thuế là gì ? Quy định pháp luật về thuế quan

4. Thủ tục hoàn thuế có phải đóng tiền qua Kho bạc Nhà nước ?

Ngày 27 tháng 03 năm 2008, Tổng Cục Hải Quan (Bộ tài chính) ban hành Công văn 1394/TCHQ-KTTT thủ tục hoàn thuế với Kho bạc nhà nước với nội dung cụ thể:

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN
-----

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

---------------

Số: 1394/TCHQ-KTTT
V/v thủ tục hoàn thuế với KBNN

Hà Nội, ngày 27 tháng 03 năm 2008

Kính gửi: Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh

Tổng cục Hải quan nhận được báo cáo số 211/HQTP-NV ngày22/01/2008 của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh về nội dung Giấy đề nghị hoàn thuế.Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Hiện nay, Kho bạc Nhà nước đang phối hợp với Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế xây dựng Thông tư mới thay thế Thông tư số 80/2003/TT-BTCngày 13/08/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn tập trung, quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước. Trong thời gian chờ Ban hành Thông tưmới thay thế Thông tư 80/2003/TT-BTC để tạo thuận lợi cho việc thực hiện hoànthuế cho Doanh nghiệp, đề nghị Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh bỏ cụm từ"kiểm tra" trên mẫu biểu "Giấy đề nghị hoàn thuế" ban hànhkèm theo Công văn số 5796/TCHQ-KTTT ngày 12/10/2007 của Tổng cục Hải quan.

Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minhđược biết và thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG PHÓ
TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Thị Bình An

>> Xem thêm:  Hồ sơ hoàn thuế có cần chứng từ thanh toán không ? Hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào ?

5. Thủ tục hoàn thuế xuất nhập khẩu với doanh nghiệp sản xuất ?

Ngày 24 tháng 11 năm 2006, Tổng Cục Hải Quan (Bộ tài chính) ban hành Công văn 5743/TCHQ-KTTT thủ tục hoàn thuế xuất nhập khẩu:

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN

******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Số: 5743/TCHQ-KTTT
V/v: Thủ tục hoàn thuế XNK

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2006

Kính gửi:

Công ty cổ phần Vật tư và XNK(46 Ngô Quyền, Hà Nội)

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 326 VT/XNK ngày 10/11/2006 của Công ty Cổ phần Vật tư và XNK về việc hướng dẫn thủ tục nhập khẩu hàng hóa để xuất hàng xuất khẩu. Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Căn cứ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005; Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thì: để được hoàn thuế nguyên liệu nhập SXXK phải thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1/ Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp xuất khẩu;

2/ Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp khác để sản xuất xuất khẩu và xuất khẩu;

3/ Doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất sản phẩm thì phải liên doanh, liên kết hoặc thuê doanh nghiệp khác gia công hàng hóa sau đó nhận sản phẩm về và trực tiếp xuất khẩu sản phẩm.

Các trường hợp trên, nếu doanh nghiệp xuất khẩu không trực tiếp xuất khẩu mà ủy thác xuất khẩu thì phải có Hợp đồng xuất khẩu ủy thác.

Trường hợp của Công ty theo trình bày là nhập khẩu Bao tải đay về để bán cho một số doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, do đó không thuộc đối tượng được hoàn thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu.

Tổng cục Hải quan thông báo để Công ty được biết, có thể truy cập trên trang Web của Bộ Tài chính (địa chỉ: www.mof.gov.vn) để tìm hiểu và nghiên cứu thêm các văn bản trên.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, KTTT.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Thị Bình An

>> Xem thêm:  Năm 2021, Vi phạm quy định về kế toán bị phạt như thế nào ?