I. Căn cứ pháp lý

Luật dân sự năm 2005

II. Nội dung tư vấn

Thưa luật sư, Tôi muốn Luật sư tư vấn 1 việc như sau: Tôi có người bạn cũng thân hiện đang công tác trong ngành công an, trong lúc khó khăn người bạn này nhờ tôi đứng ra bảo lãnh mượn tiền dùm, vì tin tưởng bạn nên tôi đã đứng ra bảo lãnh mượn 20 triệu để bạn giải quyết khó khăn. Giờ tới ngày trả tiền nhưng mà bạn đó trốn tránh em hoài..bạn đó còn thách tôi đi thưa nữa. Thưa luật sư, giờ em phải làm thế nào.

Trong trường hợp này của bạn nếu bạn đứng ra bảo lãnh cho ban của bạn vay tiền thì khi đến hạn trả nếu bạn bạn không trả được thì bạn sẽ phỉa có trách nhiệm trả cho bạn của bạn. Và sau đó yêu cầu bạn của bạn trả lại tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Điều 362. Hình thức bảo lãnh

Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo quy định trên nếu ban có hợp đồng thì bạn có thể khởi kiện họ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Điều 26 Những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

>> Xem thêm:  Việc xác định cơ quan giải quyết tranh chấp và chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

3 Tranh chấp về giao dịch dân sự hợp đồng dân sự

Luật sư cho tôi hỏi một chút về các vấn đề chanh chấp đất đây được không. Có hai người dân có hai lô đất gần bên cạnh nhau nhưng rồi vì hai lô đất đó họ đã có một cuộc tranh cái và cuối cùng hai người dân này đã nhờ đến thôn trưởng để giải quyết sự tranh chấp để cho hai bên làm hòa với nhau nhưng ban tử quản lại không giải quyết cho họ mà còn nói là ai làm ai tự giải quyết thế là hai người dân này có một cuộc xung đột với nhau và đến bây giờ vẫn chưa giải quyết cho hai người này. Theo luật sư hành động của người thôn trưởng có đúng với pháp luật không và làm một người như thế nói với cấp trên của người thôn trưởng này không. Xin luật sư cho chúng tôi biết để chúng tôi còn có biện pháp giải quyết

Trường hợp này của bạn thì hai người đó có thể nhờ đến trưởng thôn và nếu trưởng thôn không hòa giải được thì gửi đến ủy ban nhân dan xã và tiếp theo là Tòa án vì theo quy định của Luật đất đai năm 2013

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Như vậy nếu trưởng thôn trả lời vậy là không đúng quy định của pháp luật.

Xin kính chào Luật Minh Khuê... Hiện nay tôi đang có 1 thắc mắc về giấy đăng ký xe máy, cần sự giúp đỡ của luật sư: Tôi có mua 1 chiếc xe máy với 1 người. Nhưng giấy đăng ký xe đó lại là của người khác đã chết cách đây mấy năm. Nay tôi bị mất giấy tờ xe đó thì bây giờ tôi có thể làm lại giấy đăng ký của xe đó không vậy. Kính mong luật sư giải đáp giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định tại Điều 24 Thông tư 14/2015 của BCA Quy định về đăng ký xe, vì trong điều này quy định nhiều trường hợp bao gồm là di chyển cùng tỉnh hay di chuyển khác tỉnh mà bạn không nói rõ trường hợp của bạn nên bạn cần căn cú vào quy định tại Điều 24 này để chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giấy tờ . Trường hợp của bạn thì bạn thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 24

5. Trách nhiệm của người đang sử dụng xe

>> Xem thêm:  Mẫu Hợp đồng kinh tế cập nhật mới nhất năm 2020

a) Kê khai giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe có cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này) và đến cơ quan Công an cấp xã nơi mình đăng ký thường trú để lấy xác nhận về địa chỉ đăng ký thường trú của mình. Trường hợp người đang sử dụng xe là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thì lấy xác nhận của đơn vị công tác kèm theo giấy giới thiệu của đơn vị.

b) Nộp lệ phí trước bạ tại cơ quan thuế.

c) Nộp hồ sơ đăng ký xe cho cơ quan đăng ký xe. Trường hợp xe đã đăng ký tại tỉnh khác thì phải đến cơ quan đăng ký xe ghi trong giấy chứng nhận đăng ký xe để nộp hồ sơ; sau khi rút hồ sơ gốc thì đến cơ quan đăng ký xe, nơi mình đăng ký thường trú để nộp hồ sơ đăng ký xe.

6. Trách nhiệm của Công an cấp xã

a) Tiếp nhận giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 3 ban hành kèm theo Thông tư này) có cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký của người đang sử dụng xe.

b) Kiểm tra, xác minh địa chỉ đăng ký thường trú của người đang sử dụng xe. Sau khi kiểm tra xác minh, nếu đúng thì xác nhận địa chỉ đăng ký thường trú của người đang sử dụng xe. Thời gian giải quyết không quá 3 ngày làm việc.

rất mong các luật sư có thể giúp đỡ: Phân tích một vụ việc về mua bán tài sản hình thành trong tương lai trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự việt nam hiện hành

trường hợp của bạn thì theo quy định

Theo Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch đảm bảo thì: “ Tài sản hình thành trong tương lai gồm:

  1. Tài sản được hình thành từ vốn vay;
  2. Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
  3. Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng kí quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng kí theo quy định của pháp luật”.

I. Đặc điểm của tài sản hình thành trong tương lai:

+ Là tài sản: tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền sở hữu quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện

+ Thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.

+ Bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch đảm bảo, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch đảm bảo mới thuốc quyền sở hữu của bên đảm bảo.

 Về ví dụ về hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai có thể lấy ví dụ thực tế hiện nay đó là giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Ví dụ chung cư đang trong quá trình xây dựng, nhà đầu tư đã thông báo về việc bán nhà. Như vậy các cá nhân có nhu cầu về nhà có thể làm hợp đồng mua bán trước, sau đó khi nhà hòa thiện thì sẽ được chủ nhà làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay gọi tắt là sổ hồng cho người mua nhà. Thì cái căn nhà đó chính là tài sản hình thành trong tương lai

 Chào luật sư! Tôi có một vấn đề thắc mắc muốn nhờ luật sư giải đáp giúp. Câu hỏi của tôi như sau: Chị Hoa thường hay bán vé số cho anh Trọng. Một ngày, như mọi lần, anh Trọng lấy 4 tờ vé số và anh trả cho chị 40 nghìn (10 nghìn/vé). Nhưng do giống nhau chị đã đưa nhầm cho anh 5 tờ. Hôm sau, anh dò vé thì trúng 250.000.000 (50 triệu/vé). Chị Hoa đòi lại anh Trọng trả lại 50 triệu bằng giá trị 1 tờ vé số. Nhưng anh chỉ trả 10 nghìn bằng giá trị tờ vé số lúc ban đầu. Tình huống này phải giải quyết làm sao ạ. Mong sớm nhận được phản hồi của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

 Trường hợp này của bạn thì rõ ràng chị Hoa bán cho anh Trọng nhưng chị Hoa đã đưa nhầm vé cho anh Trọng dẫn đến thừa vé. Như vậy anh Trọng phải trả cho chi Hoa số tiền đó đáng lẽ chị Hoa được hưởng. Trường hợp này nếu anh Trọng không trả thì chị Hoa có quyền khởi kiện để đòi lại, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?

Em chào anh. Em muốn hỏi chút về chuyện liên quan đến nợ tiền không trả ạ. Em có nhờ anh minh ( chỗ quen biết ) chạy việc cho e, từ tháng 5/2014 đến 7/2015 tổng 160tr, giao trong 5lan, có giấy giao tiền viết tay đầy đủ từng lần giao tiền, hứa sẽ lo việc giúp. Hẹn tháng12 lo xong việc nếu k đc sẽ hoàn trả đầy đủ, nhưng 9/2015 không lo được việc và viết giấy trả nợ trong tháng 10 ( khi em biết việc em với cty đó bị hủy từ t5/2015 do e tìm hiểu đc , anh ấy vẫn giấu, lúc đó em liên lạc thì không được và tìm đến nhà và anh ấy đã viết giấy nợ) rùi Vợ và em gái anh ấy sang nói chuyện viết giấy cam kết xin trả 3 lần, lần 1 đã trả 50tr , lần 2 vào 10/11, lần 3 vào 25/12, viết nợ ký đầy đủ, nhưng đến lần 2 k trả và e đã sang nói chuyện thì đc biết anh ấy cũng chạy việc cho 1 ngày nữa nợ 126tr, a ấy nói lý do là bị ngày ta lừa hết, bây giờ vợ đổi ý không trả nữa và mặc kệ bảo em tìm anh ấy đòi ( giờ không liên lạc được hay biết đi đâu) Gia đình em giờ phải làm sao ạ,giấy tờ giao tiền không có người chứng kiến thì có sao không ạ, đưa ra pháp luật có đc k a, mong luật sư tư vấn cách giải quyết ạ.

Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng vay tài sản không bắt buộc phải lập thành văn bản. và cũng không bắt buộc phải có người làm chứng

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy nếu khi đến hạn mà anh ta không trả thì bạn có quyền khởi kiện ra tòa để đòi lại tài sản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Điều 26 NHững tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

3 Tranh chấp về giao dịch dân sự hợp đồng dân sự

Chào luật sư! Hiện tôi đang có 1 vấn đề xin được luật sư tư vấn giúp. Tôi có 1 xe ô tô 8 chỗ,lái xe cua tôi đi qua một con đường đông dân cư.không may có 1 em bé 3 tuổi chạy từ trong nhà băng qua đường và va vào cánh cửa trước cua tôi. Em bé bị thương nặng sau 7 ngày thì tử vong. Công an kết luận lái xe của tôi không có lỗi.nhưng tôi xét thấy gia đình họ gặp nhiều khó khăn nên tổng số tiền đưa cho gia đình em bé là 80 triệu ( cả tiền đi viện hỗ trợ mai táng ).Xe của tôi tham gia trách nhiệm dân sự và được công ty Bh đền cho 35 triệu. Như vậy có đúng không. Và em bé trên có lỗi hay không

TRường hượp này của bạn sẽ bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 theo quy định tại 

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

>> Xem thêm:  Tư vấn về tranh chấp khi tiến hành thi công công trình nhà ở?

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Pháp luật cũng quy định về việc bồi thường trước hết phải theo sự thỏa thuận của hai bên nếu hai bên không thỏa thuận được thì sẽ nhờ tòa án giải quyết. Như vậy nếu bạn bồi thường 80 triệu và được gia đình em bó đồng ý thì như vậy là đã đúng quy định của pháp luật.

-----Original Message----- From: To Uyen Huynh To: lienhe@luatminhkhue.vn Date: Fri, 8 Jan 2016 16:20:52 0700 Subject: Cám ơn luật sư. Mặc dù bộ luật dân sự 2015 chưa có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên yêu cầu là áp dụng điều 270 khoản 2 bộ luật dân sự 2015 cụ thể là về vấn đề "hiệu lực của địa dịch". Căn cứ vài điều 207 khoản 2 để xác định thời gian mà A phải chuyển đi. Xin làm rõ hơn vấn đề này. Xin cám ơn!

 Theo quy định tại điều 207 và Điều 270 Bộ luật dân sự 2015

Điều 207. Sở hữu chung và các loại sở hữu chung

1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.

2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

Điều 270. Thời hạn của quyền bề mặt

1. Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể được coi là một quyền phát sinh từ việc bị vi phạm trách nhiệm dân sự hay không ?

2. Trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng.

Hai quy định này không quy định về vấn đề địa dịch

so sánh một cách chi tiết cơ sở pháp lý, nội dung quy định của BLDS 2005 với BLDS 2015 về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của bộ luật mới( luật sư có thể kèm ví dụ trong trường hợp này để minh chứng cụ thể được không ạ?) mong sớm nhận được hồi đáp của luật sư! xin cảm ơn

 Điểm mới của Luật dân sự năm 2015 so với Luật dân sự năm 2005 đó là sự tham gia của chủ thể trong các gioa dịch dân sự đó là không chỉ còn là cá nhân theo quy định của Luật dân sự năm 2005 mà còn là hộ gia đình tổ hợp tác, tổ chức khac không có tư cách pháp nhân.

Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.

Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.

2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.

Như vậy theo quy định trên thì: ví dụ trước đây thành viên của hộ gia đình tham gia giao dịch dân sự thì bây giờ cả hộ gia đình cũng có thể tham gia giao dịch. ví dụ như trước đây chỉ có cá nhân đứng ra vay tiền thì bây giờ hộ gia đình cũng có thể vay tiền. Nếu cả hộ gia đình vay tiền thì nó sẽ đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự nhiều hơn, so với các nhân vì các thành viên trong hộ gia đình đều phải có trách nhiệm trong khoản vay đó,

Xin chào Luật sư,Tôi có một Hợp đồng dân sự với công ty du lịch và thương mại sông hồng số 68 lê văn lương,nhân chính thanh xuân hà nội,hợp đồng ký ngày 17 tháng 10 năm 2013,thời hạn ký là 24 tháng.Nhưng khi hết hợp đồng ngày 17 tháng 10 năm 2015 tôi vẫn tiếp tục làm việc đến ngày hôm nay là tháng thứ 6 và được công ty tự động ký hợp đồng đó cho tôi thành hợp đồng không thời hạn,vậy nay tôi không tiếp tục làm việc nữa tôi đã viết đơn xin thanh lý hợp đồng.Theo trong điều khoản là bồi thường mức 6.000.000 đối với những lái xe có thời hạn 2 năm,nhưng mới làm việc được dưới hai năm.bồi thường mức 10.000.000 đối với lái xe ký hợp đồng có thời hạn 3 năm nhưng mới làm việc được dưới 3 năm.Vậy trong trường hợp của tôi sẽ bị trừ bao nhiêu tiền?và tại sao công ty tự động ký hợp đồng mà tôi không được ký ngay khi tôi hết hợp đồng lần 1.?Tôi xin chân thành cám ơn Luật sư.

 Trường hợp của bạn thì đây là hợp đồng lao động chứ không phải là hợp đồng dân sự. Và theo quy định của Bộ luật lao động thì 

Điều 15. Hợp đồng lao động

>> Xem thêm:  Giao dịch dân sự do người chưa thành niên thực hiện khi nào thì hợp pháp? Khi nào thì vô hiệu ?

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.'

Như vậy hợp đồng lao động phải do hai bên cùng thỏa thuận và phải ký lập thành văn bản. nếu bạn không ký thì sẽ không phải bồi thường khi ban chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước.

Trên đây là nội dung tư vấn về các thủ tục liên quan đến lĩnh vực dân sự quý khách có thể trả lời câu hỏi của mình dựa theo thông tin trên.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự

>> Xem thêm:  Tư vấn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định mới của luật dân sự ?