1. Cách giải quyết ranh chấp lao động cá nhân khi bị đuổi việc ?

Thưa luật sư: T là kỹ sư điện làm việc tại công ty M (100% vốn nước ngoài) đóng trên địa bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng. Trước khi ký hợp đồng lao động, hai bên thỏa thuận thử việc trong thời gian là 4 tháng, từ ngày 1/9/2014 đến 31/12/2014, mức lương là 90% tiền lương của công việc làm thử. Hết thời gian thử việc, mặc dù công ty M không ký kết hợp đồng lao động chính thức nhưng T vẫn đi làm và được giao công việc bình thường. do những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, tháng 5/2015 công ty M tổ chức lại cơ cấu lao động và tiến hành sắp xếp lại nhân sự.

Khi rà soát hợp đồng lao động, công ty M phát hiện T không có hợp đồng lao động nên ngày 5/6/2015 công ty M triệu tập T đến và thông báo T nghỉ việc từ ngày 10/6/2015 với lý do giữa công ty và T không có quan hệ lao động. Cho rằng bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. T đã làm đơn khởi kiện ra tòa án. Hỏi:

1. Hợp đồng thử việc giữa T và công ty M có hợp pháp không ? Tại sao ?

2. Việc chấm dứt của Công ty M đối với T đúng hay sai ? Tại sao ?

3. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện của T ? Vì sao ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Hợp đồng thử việc giữa T và công ty M có hợp pháp không ? Tại sao ?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Bộ luật lao động 2012 thì “người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc”. Và theo nguyên tắc giao kết hợp đồng phải dựa trên tiêu chí tự nguyện, tự do giao kết hợp đồng thì giữa anh T và Công ty M hoàn toàn có thể thỏa thuận và giao kết hợp đồng thử việc trước khi anh B vào làm việc chính thức.

Tuy nhiên, Điều 27 Bộ luật lao động 2012 lại quy định như sau:

" Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác."

Ở đây thời gian thử việc giữa anh Trần B và Công ty M là 4 tháng từ ngày 1/9/2014 đến 31/12/2014 với công việc kỹ sư điện của anh B là trái quy định pháp luật.

2. Việc chấm dứt của Công ty M đối với T đún g hay sai ? Tại sao ?

Điều 44 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:

" Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh."

Sau khi hết thời gian thử việc, Công ty M lại không ký hợp đồng lao động chính thức với anh T nhưng khi anh T đi làm vẫn được giao công việc bình thường. Theo quy định tại Điều 29 BLLĐ thì khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động cũng quy định chi tiết về việc thông báo kết quả về việc làm thử như sau:

“1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm viêc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng với người lao động”.

Như vậy, trong thời hạn 03 ngày trước khi anh T kết thúc thời gian làm việc công ty M phải thông báo cho anh T kết quả công việc trong thời gian làm thử. Vì sau khi hết thời gian làm thử, anh T đi làm và được giao việc bình thường có nghĩa là kết quả làm thử đạt yêu cầu. Mà theo như quy định pháp luật thì Công ty M phải giao kết ngay hợp đồng với anh T. Thêm vào đó, 31/12/2014 anh T kết thúc thời gian thử việc và vẫn tiếp tục làm việc cho tới khi Công ty M tiến hành cơ cấu lại lao động vào 5/2015. Theo quy định về chế độ thử việc, khi hết thời hạn thử việc mà Công ty không ký kết hợp đồng lao động cho người lao động, người lao động không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức. Vì người lao động vẫn đi làm và được giao công việc bình thường có nghĩa là đã xác lập quan hệ lao động giữa hai bên.Tuy pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động nào, có xác định thời hạn bao lâu,nhưng có thể thấy việc không ký kết hợp đồng mới, vẫn làm phát sinh quan hệ lao động giữa hai bên, coi như hợp đồng mới đương nhiên được xác lập và không xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của lao động (là loại hợp đồng không xác định thời hạn).

Như vậy, trong trường hợp của anh T, mặc dù không ký hợp đồng lao động mới nhưng hợp đồng lao động giữa anh T và Công ty M đã đương nhiên được xác lập.

Từ những căn cứ đưa trên có thể thấy việc chấm dứt của Công ty M đối với anh T là sai quy định pháp luật, không được chấm dứt hợp đồng với lý do là anh T chưa ký hợp đồng. Công ty M chỉ có thể chấm dứt hợp đồng với anh T trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có theo phương án sử dụng lao động mà công ty phải xây dựng và thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện của T? Vì sao?

Theo Điều 38 BLLĐ về các trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thì trường hợp của anh T không được quy định, vì thế, theo Điều 41 BLLĐ thì công ty M đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với anh T.

Điều 200 BLLĐ quy định chi tiết cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm hòa giải viên lao động và tòa án nhân nhân. Trong đó thẩm quyền của tòa án được quy định tại Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011 và BLLĐ như sau:

Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động mà hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải. Như vậy không phải mọi tranh chấp lao động cá nhân đều thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mà nhìn chung tòa án chỉ giải quyết những tranh chấp đã qua hòa giải tại hòa giải viên lao động nhưng không thành, hoặc tranh chấp đã được hòa giải thành mà một bên không thực hiện các thỏa thuận đã đạt được, hoặc do chủ thể có thẩm quyền không giải quyết trong thời hạn mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 201 BLLĐ quy định một số tranh chấp lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải trong đó có “tranh chấp về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Theo như phân tích ở trên, Công ty M đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phép với anh T. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà không cần qua hòa giải tại hòa giải viên. Như vậy anh T có thể yêu cầu Tòa án cấp huyện giải quyết việc chấm dứt HĐLĐ của công ty với mình. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợp ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Anh T cần chuẩn bị những hồ sơ sau:

1/ Đơn khởi kiện

2/ Bản sao Giấy CMND ( Hộ chiếu); Hộ khẩu ( có Sao y bản chính)

3/ thu thập chứng cứ tài liệu chứng minh quyền khởi kiện: phụ thuộc vào tranh chấp mà các tài liệu cần thiết khác nhau, tuy nhiên, thông thường các chứng cứ, tài liệu để chứng minh quyền khởi kiện bao gồm:

- Hợp đồng lao động ( ở đây là hợp đồng thử việc giữa anh T và công ty M)

- Các tài liệu chứng minh sự kiện tranh chấp giữa các bên

Hồ sơ này nộp tại TAND cấp huyện nơi công ty M có trụ sở. Thời hạn giải quyết tuân theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Thời hạn chuẩn bị xét xử từ 2- 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án

- Thời hạn mở phiên tòa từ 1- 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

Xin chào luật sư, hiện đang em ở tỉnh bình phước. Em có câu hỏi muốn được luật sư giải đáp giúp em.
Ngày 06/02/2017 em có nghỉ việc tại công ty tnhh L A, ngày 06/03/2017 em tới trung tâm dịch vụ việc làm để nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, nhưng cán bộ tại trung tâm không nhận hồ sơ của em, nói rằng em không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, họ nói lý do là trong quyết định nghỉ việc của em ghi lý do nghỉ việc là: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (áp lực công việc) nên thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên không nhận hồ sơ.
Xin hỏi luật sư là trường hợp nghỉ việc của em như vậy có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tái pháp luật hay không và em muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cần những điều kiện nào ?
Em xin chân thành cảm ơn.Trân trọng.

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn

Căn cứ Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Như vậy, việc theo hợp đồng lao động công việc của bạn đã được xác định mà vì lí do quá sức với bản thân mà bạn không thể thực hiện được công việc thì không thuộc các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy đinh của pháp luật."

Pháp luật quy định điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

Điều 49 Luật việc làm năm 2013 quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

"1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

- Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn); đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

- Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

- Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

- Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

- Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Chết."

Với lý do áp lực công việc thì không được coi là lý do hợp lý để chấm dứt hợp đồng lao động đúng với quy định của pháp luật. Do đó trường hợp của bạn vẫn được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Như vậy nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

>> Bài viết tham khảo thêm: Phải làm gì khi công ty không trả lương và chế độ cho người lao động sau khi thôi việc ?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?

3. Khi nào được chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động ?

Thưa Luật sư, người lao động đang nuôi con học đại học thì người sử dụng lao động có được chấm dứt hợp đồng lao động không? Xin cảm ơn!

Có được chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động đang nuôi con học đại học ?

Tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.".

Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn với lý do bạn đang nuôi con học đại học là trái quy định của pháp luật.

Theo đó, bạn có quyền yêu cầu công ty thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 42 Bộ luật lao động năm 2012:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.".

Nếu công ty không giải quyết thì bạn có quyền yêu cầu Công đoàn công ty giải quyết hoặc gửi đơn đến Phòng lao động thương binh và xã hội yêu cầu giải quyết.

Tham khảo bài viết liên quan:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

2. Tư vấn về chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?

3. Công ty tự ý chấm dứt hợp đồng lao động có trái luật không?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần phải báo trước ? Cách tính tiền lương thử việc

4. Có được bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội khi chấm dứt HĐLĐ ?

Tôi năm nay 54 tuổi, tham gia bảo hiểm bắt buộc từ năm 1980, nhưng không liên tục, đến nay đã đóng BHXH được 33 năm 2 tháng.
Hiện nay Tôi đang công tác tại công ty cổ phần có vốn nhà nước, Tôi muốn xin nghỉ bảo lưu chờ đủ tuổi để về hưu có được không ? cần phải có hồ sơ, thủ tục gì ? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 tại khoản 4, Điều 36 quy định về trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

Điều 187. Tuổi nghỉ hưu

1. Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

2. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Như vậy, quý khách hàng không thể chấm dứt hợp đồng theo trường hợp này, quý khách hàng căn cứ vào Điều 36, Điều 37 Bộ luật lao động để thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Sau khi thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, quý khách hàng chờ đến khi đủ tuổi hưởng hưu trí để hưởng chế độ hưu trí.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Điều kiện hưởng chế độ hưu trí ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020