Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Bên kia họ chỉ nộp cho toà được (đơn khởi kiện, bản sao giấy CNQSDĐ của bố/mẹ em, giấy khai sinh, hộ khẩu, CMND, di chúc, bản tự khai của chú...đều là bản photo hết ạ)

Ngoài ra, khi nhận được thông báo thụ lý vụ án thì nhà e cũng đã làm đơn Yêu cầu phản tố, đơn áp dụng thời hiệu để gửi cho toà

Em mong là bên mình có thể xem xét trả lời giúp em, nếu vụ này được xử thì tỷ lệ thắng thua sẽ như thế nào ạ. Nhà em có gặp bất lợi gì ko.?

Em thật sự thấy hết sức vô lý khi chú em và 2 người con nuôi của ông nội từ đâu về tranh giành miếng đất mà nhà em đã đứng tên bao lâu nay. Tiền điện, tiền nước, tiền thuế đất hơn 30 năm nay cũng là do nhà em đóng, tiền xây mồ mả ông bà cũng là bố mẹ đứng ra làm. Lúc gặp khó khăn cũng ko dám bán vì muốn giữ lại để có nơi thờ cúng ông bà tổ tiên. Bây giờ mà phải chia đều cho họ thì thật sự quá bất công. Lúc bố em còn sống thì ko ai dám quậy gì hết, bố vừa mất thì hùa nhau vào để bắt nạt mẹ con em

Tuy là bây giờ toà đang thụ lý giải quyết vụ án. Vậy thì trong thời gian này nhà em có quyền để tự đuổi chú em ra khỏi mảnh đất của nhà em ko.? Mảnh đất mà đang xảy ra tranh chấp đó ạ, chú tự ý đến dựng nhà tiền chế ở trên đất rồi ở đấy suốt mấy năm nay ko chịu đi, mặc cho nhà e đã làm đơn gửi UBND xã nhiều lần yêu cầu xã giải quyết, chú cũng đã ký giấy cam kết với xã là sẽ tự tháo dỡ từ cuối năm 2016, nhưng đến giờ vẫn ở lì ko đi.

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bộ luật dân sự 2015;

>> Xem thêm:  Chế độ quản lý nhà nước về đất đai ? Vai trò quản lý đất đai của cơ quan nhà nước

Luật đất đai 2013;

Luật đất đai năm 199.3;

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Câu hỏi 1. Khả năng thắng thua trong vụ kiện

Theo hồ sơ vụ việc bạn cung cấp:

+ nguyên đơn là: Hoàng Cao X, sinh năm 1962.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1962

Để xác định được khả năng thắng kiện trong vụ việc này, đầu tiên cần xem xét các nội dung khởi kiện của ông Hoàng Cao Nghị. Sau đó phân tích, đánh giá các yêu cầu khởi kiện này dựa trên quy định của pháp luật. Cuối cùng tôi sẽ đưa ra quan điểm của bản thân về vụ việc trên.

Trong nội dung khởi kiện, ông Hoàng Cao X yêu cầu các nội dung sau:

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, đất đai, Bảo hiểm y tế ?

- Yêu cầu chia di sản của ông Khâm, bà Chung để lại 4x7m2 thuộc thửa 41dc8, tờ bản đồ số 02 tại xã Phú L. Theo đó yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tân P cấp cho ông O.

- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số CP 4477xxx dó sở TNMT tỉnh A cấp ngày 1/11/2018 đối với quyền sử dụng đất diện tích: 405,7m2 tại thửa đất số 124 tờ bản đồ số 11

Tôi sẽ đi phân tích từng yêu cầu của ông Hoàng Cao X:

Yêu cầu thứ nhất: chia di sản của ông K (chết năm 1986), bà Chung để lại 487123m2 thuộc thửa 478, tờ bản đồ số 02 tại xã Phú L. Theo đó yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tân P cấp cho ông O.

Yêu cầu này không có căn cứ vì:

Thứ nhất, Diện tích đất 487m2 không được xác định di sản thừa kế vì:

Mục 1.1, 1.2 mục 1 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:

“1.1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 199.3, Luật Đất đai năm 200.3 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 200.3, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.”

Trong trường hợp này, diện tích đất 487m2 ông Khâm không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này, cũng không có bất kỳ giấy tờ nào thể hiện ông Khâm là người sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Đất đai có mồ mả giải quyết thế nào khi có tranh chấp ? Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ?

Hơn nữa, trước năm 1996 thì diện tích đất này chưa được kê khai trong bất kỳ văn bản nào của UBND xã Tân P.

Do đó, theo quy định trên thì diện tích đất 487m2 không được coi là di sản mà ông Khâm để lại. Nên việc ông Hoàng Cao Nghị đề nghị chia di sản của ông Khâm (chết năm 1986), bà Chung là hoàn toàn không có cơ sở.

Thứ hai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tân P cấp cho ông O.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông O vào năm 1997 với thông tin đất như sau: Tờ bản đồ số 02 số thửa 478xxx, diện tích: 48xxxxm2

Thời điểm ông O được UBND huyện Tân P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thởi điểm Luật đất đai 199.3 đang được áp dụng để thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như áp dụng giải quyết các nội dung liên quan đến đất đai.

Khoản 1 Điều 2 Luật đất đai 199.3 quy định:

Điều 2

1- Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”

Thời quy định này, nếu ông O sử dụng đất ổn định và được UBND xã xác nhận việc sử dụng đất của ông O thì UBND huyện Tân P sẽ đủ cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông O.

Theo thông tin quý khách cung cấp, hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông O vào năm 1997 gồm:

>> Xem thêm:  Hợp đồng đặt cọc mua nhà bằng giấy viết tay có hiệu lực không ? Đòi tiền đặt cọc mua nhà thế nào ?

- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Bảng kê khai đất đai của UBND xã Phú L.

- Biên bản xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Phú L trong đó có nội dung:

Căn cứ luật đất đai và các văn bản pháp qui có liên quan Hội đồng nhất trí (tỉ lệ) có 0 tổ chức và 196 cá nhân đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chi tiết ghi trong danh sách kèm theo”. Trong danh sách có tên của ông Hoàng Tử O.

- Tờ cam đoan về chủ quyền nhà của ông Hoàng Tử O. có xác nhận của ấp và xác nhận của xã.

Như vậy, có thể thấy việc UBND huyện Tân P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Tử O hoàn toàn đúng pháp luật.

Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp chỉ được thực hiện trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong trường hợp :

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Nhưng trường hợp của ông O như phân tích ở trên thì được cấp giấy hoàn toàn đủ điều kiện được cấp, cấp đủ thẩm quyền, đúng đối tượng.

Kết luận: Không có căn cứ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tân P cấp cho ông O

>> Xem thêm:  Tư vấn việc cho thuê nhà xưởng ? Mẫu hợp đồng cho thuê nhà xưởng ?

Yêu cầu thứ hai: hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số CP 447761 do sở TNMT tỉnh A cấp ngày 1/11/2018 đối với quyền sử dụng đất diện tích: 405,7m2 tại thửa đất số 124 tờ bản đồ số 11 bản đồ địa chính xã Phú L cho bà Nguyễn Thị Kim KKK.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong trường hợp :

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Vậy để có thể hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có căn cứ cho răng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số CP 447761 do sở TNMT tỉnh Đồng A cấp ngày 1/11/2018 là sai, là không đúng thẩm quyền/ không đúng đối tượng sử dụng đất/ không đúng diện tích đất/ không đủ điều kiện được cấp/ không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Trường hợp này, tôi chưa nhận được hồ sơ cấp nên chưa đánh giá được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số CP 447761. Tuy nhiên, nếu chưa chỉ ra được sai phạm thì không thể hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

Câu hỏi 2. Trong thời gian này nhà em có quyền để tự đuổi chú em ra khỏi mảnh đất của nhà em ko? Mảnh đất mà đang xảy ra tranh chấp đó ạ, chú tự ý đến dựng nhà tiền chế ở trên đất rồi ở đấy suốt mấy năm nay ko chịu đi, mặc cho nhà e đã làm đơn gửi UBND xã nhiều lần yêu cầu xã giải quyết, chú cũng đã ký giấy cam kết với xã là sẽ tự tháo dỡ từ cuối năm 2016, nhưng đến giờ vẫn ở lì ko đi.

Trả lời: Mảnh đất nhà bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy bạn hoàn toàn có quyền sử dụng, bảo vệ diện tích đất này. Mặc dù đang giải quyết tranh chấp, nhưng vào thời điểm hiện tại chưa có quyết định nào hạn chế quyền sử dụng đất của bạn. Vì vậy, quyền lợi của bạn vẫn được pháp luật bảo vệ.

Bạn có quyền tố cáo cơ quan công an về hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác với hành vi “Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.” theo quy định tại Điều 158 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

>> Xem thêm:  Người sử dụng đất có những quyền và nghĩa vụ gì?

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;

c) Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ;

d) Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

>> Xem thêm:  Làm sao để biết đất có bị quy hoạch hay không? Kiểm tra thông tin quy hoạch nhà đất như thế nào ?

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đaiViệc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

9h ngày 27/8 bác Nguyễn Thị Minh, sdt:

>> Xem thêm:  Viết đơn khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của luật mới ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Trả lời:

Tời gian thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận tại khoản 40 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi Điều 61 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định như sau:

- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày (không kể 15 ngày niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng sử dụng đất, trình trạng tranh chấp đất đai, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở UBND cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp cấp GCN quyền sử dụng đất lần đầu).

Câu hỏi: Mất giấy tờ mua bán chuyển nhượng có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Trả lời:

Tại khoản 54 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định như sau:

"1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;

b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;

c) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.”

Tại khoản 2 Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định:

Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà bên nhận chuyển quyền sử dụng đất chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất theo quy định thì thực hiện theo quy định như sau:

a) Người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có;

b) Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển quyền. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng tin do người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trả);

c) Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền.

Câu hỏi: Đất lấn chiếm có được công nhận quyền sử dụng đất không?

Trả lời:

Trường hợp nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên thì căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

“Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

…”