1. Tư vấn về vấn đề ly thân và ly hôn trong luật hôn nhân gia đình ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Hai người kết hôn trên 7 năm, người vợ không bị đánh đập, người chồng và vợ không có tình nhân khác. Vướng mắc dẫn đến người chồng đâm đơn li hôn lí do: mâu thuẫn trong sinh hoạt đời sống vợ chồng (theo lời trong đơn li hôn) và có thái độ không coi trọng gia đìng chồng.

Tôi xin nhờ Luật sư tư vấn giúp, người chồng đơn phương đâm đơn ly hôn, vậy người vợ có được xin tòa án cho ly thân trong thời gian nhất định một năm hay ba năm được hay không ? Vì bản thân người vợ không muốn ly hôn vì tương lai của đứa con gái còn quá nhỏ, bé chỉ 4 tuổi. Hai vợ chồng không tài sản. Tòa đã mời hòa giải một lần. Trong thời gian người chồng đưa đơn ly hôn thì hai vợ chồng đã không chung sống 5 tháng. Như vậy có được coi là ly thân ? Rất mong luật sư chỉ dẫn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về vấn đề ly thân và ly hôn trong luật hôn nhân gia đình ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1975

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn có liên quan không quy định về vấn đề ly thân hay nói cách khác, pháp luật Việt Nam chưa thừa nhận chế độ ly thân vì thế, về vấn đề này, pháp luật chưa điều chỉnh.

Tuy nhiên, theo quy định tại điều 20 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có thể thỏa thuận về nơi sinh sống của hai người mà không nhất thết phải chung sống tại cùng một địa điểm nhất định:

"Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng

Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính."

Như vậy, Ly thân được hiểu là sự sống riêng của hai vợ chồng: không ăn, ở chung.... Việc ly thân do sự lựa chọn của hai vợ, chồng pháp luật không thể can thiệp. Bạn có thể thỏa thuận với chồng về lựa chọn này.

2. Ly hôn mà không cần chồng ký giấy tờ có được không ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi đã ra tòa hòa giải 2 lần, lần thứ 2 chồng tôi không chịu ký vào giấy tờ gì. Cuối cùng tòa cho về. Giờ theo luật thì giải quyết như thế nào để tôi có thể ly hôn? Tôi muốn ly hôn mà không cần chồng tôi ký có được không?
Trân trọng cảm ơn.

Ly hôn mà không cần chồng ký giấy tờ có được không?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.1975

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về hòa giải tại Tòa án như sau:

"Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."

Điều 186 BLTTDS quy định về biên bản hoà giải như sau:

"1. Việc hoà giải được Thư ký Toà án ghi vào biên bản. Biên bản hoà giải phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hoà giải;

b) Địa điểm tiến hành phiên hoà giải;

c) Thành phần tham gia phiên hoà giải;

d) ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

đ) Những nội dung đã được các đương sự thoả thuận, không thoả thuận.

2. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của Thư ký Toà án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.

Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải."

Theo quy định trên về nguyên tắc thì biên bản hòa giải phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự nếu không biên bản này sẽ không có giá trị pháp lý. Do đó, nếu lần hòa giải này mà chồng bạn không chịu ký vào biên bản hòa giải thì có thể Tòa án sẽ mời bạn hòa giải lần nữa trước khi xét xử.

Như vậy, để Tòa án đưa vụ việc ra xét xử luôn mà không cần thông qua thủ tục hòa giải thì trường hợp của bạn phải thuộc một trong các trường hợp sau:

- Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

- Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng.

- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

(Điều 182 BLTTDS)

3. Chồng giữ hết giấy tờ gốc có ly hôn được không ?

Thưa Luật sư, mong Luật sư tư vấn giúp em với: Em và chồng em ly thân đã được 2 năm rồi nhưng thời gian trước chưa ly thân khi em đề cập đến vấn đề ly hôn thì nhân lúc em đi làm anh đã cầm giấy tờ đất mang tên 2 vợ chồng và 1 số giấy tờ khác như giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con, anh mang đi giấu ở nhà anh ấy ở dưới quê giờ em rất muốn ly hôn nhưng anh không muốn ly hôn.

Mẹ con em ở Sơn La mà hộ khẩu của anh ấy ở tận Nho Quan- Ninh Bình. Vậy trong trường hợp này em phải làm thế nào để có thể được ly hôn mà vẫn được nuôi con và phân chia ngôi nhà mà em và chồng em đứng tên nếu như không có bìa đỏ của ngôi nhà thì em làm đơn xin ly hôn có được tòa xem xét giải quyết không ạ .

Kính mong Luật sư giúp đỡ.

Em xin chân thành cảm ơn.

Chồng giữ hết giấy tờ gốc có ly hôn được không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình, gọi: 1900.1975

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn Luật Minh Khuê, vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Chào bạn, theo quy định tại điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Như vậy chồng bạn không đồng ý thì bạn vẫn có thể làm thủ tục ly hôn đơn phương như sau:

Trước tiên bạn cần chuẩn bị giấy tờ sau:

- Bản chính ĐKKH;

- Bản sao có chứng thực CMN, sổ hộ khẩu của vợ,chồng;

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con;

- Đơn xin ly hôn( theo mẫu);

- Các giấy tờ chứng minh tài sản;

Sau đó bạn nộp tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn cư trú, làm việc để được giải quyết.

Trường hợp bạn không có giấy ĐKKH bản chính thì bạn có thể lên Ủy ban nhân dân cấp xã nơi vợ chồng bạn đã đăng ký kết hôn để xin cấp bản sao Giấy ĐKKH. Trường hợp này khi nộp bản sao ĐKKH cho Tòa án bạn phải trình bày rõ lý do là vì chồng bạn giữ hết giấy tờ nên bạn không thể cung cấp cho Tòa và Tòa án sẽ yêu cầu chồng bạn cung cấp các giấy tờ bản chính khi thụ lý vụ án.

Về giấy khai sinh của con: pháp luật không yêu cầu nộp bản chính giấy khai sinh nên bạn sẽ nộp bản sao có chứng thực giấy khai sinh của con.

Về vấn đề nuôi con khi ly hôn: bạn không nói rõ con bạn năm nay bao nhiêu tuổi nên chúng toi không thể tư vấn cụ thể cho bạn được. Hiện nay Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về vấn đề nuôi con khi li hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Về tài sản là ngôi nhà: bạn không nói rõ đây là tài sản riêng của chồng bạn hay tài sản chung của vợ chồng nên chúng tôi chia làm 2 trường hợp như sau:

- Nếu ngôi nhà là tài sản riêng của chồng bạn thì khi ly hôn vẫn được xác định là tài sản riêng của chồng bạn.

- Nếu ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng thì được chia theo quy định tại Điều 59 Luật HNGĐ 2014 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

4. Nợ đứng tên một người trong thời kỳ hôn nhân, ly hôn giải quyết như thế nào?

Em có thắc mắc nhờ luật sư giải đáp giúp: Em trai em có việc làm ổn định, em dâu thì không có việc làm ổn định, 2 người đã kết hôn từ năm 2011 (có giấy ĐKKH). Trong thời gian sống chung, em trai có vay 1 vài khoản tiền ngân hàng và bên ngoài (do em trai đứng tên) để chi phí cho sinh hoạt hằng ngày. Vậy nếu ly hôn thì khoản nợ đó sẽ giải quyết như thế nào?
Xin cảm ơn luật sư./.

Trả lời:

Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;"

Như vậy, nếu em bạn chứng minh được khoản vay dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình thì khoản tiền vay đó mỗi bên sẽ phải trả một nửa khi ly hôn.

5. Tư vấn về quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn

Kính thưa Luật sư! Luật sư làm ơn giúp đỡ tôi một vướng mắc như sau: Tôi và cô ấy ly hôn từ tháng 7 năm 2014 đến nay, chúng tôi có 01 con gái đến thời điểm ly hôn là 11 tuổi. Theo nguyện vọng của cháu là để cho mẹ làm người thực hiện quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ. Căn cứ vào Quyết định của TAND huyện thì cả 2 bên đều chấp hành tốt quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ.
Tuy nhiên, có một việc mà tôi không thể chấp nhận được ở cô ấy trong một số hành vi mà tôi cho là sẽ gián tiếp làm ảnh hưởng đến tình cảm Cha- Con của tôi đó là:
1. Về phía tôi, khi tôi muốn đón con đi chơi đâu xa khỏi địa bàn huyện Bắc Quang, tôi đều nhắc con gái là "con điện thoại xin phép mẹ để cho mẹ yên tâm", đômgf thời lựa lúc cháu được nghỉ học chính đáng mới đi. Việc làm ấy tôi cho rằng: đi chơi với bố là một chuyện, nhưng cũng là dạy con trẻ biết tôn trọng mẹ nó và đáp ứng được việc giám sát, theo dõi con của mẹ cháu.
Tuy nhiên, về phía cô ta thì hoàn toàn ngược lại: đã nhiều lần cô ấy tổ chức 2 mẹ con đi chơi xa khỏi tỉnh, những nơi lành có, nguy hiểm có nhưng chưa một lần nào cô ấy nhắc con gái thông báo cho bố biết (do tôi ở xa cháu 6km nên ko cập nhật được thông tin). Tệ hại nhất, vừa qua cô ta đã lặng lẽ tự tiện cho con gái nghỉ học cả 1 tuần (con gái tôi học trường chất lượng cao) và cho con rời khỏi địa bàn Việt Nam đi làm gì và lí do cho con đi mà tôi không được biết, đến tận hôm nay là 05/9 ngày tựu trường vẫn chưa thấy cháu về cùng các bạn, tôi cố tình liên lạc với cháu không được, cố tình liên lạc với mẹ cũng không được, mà trước, trong khi đi cô ta và con cũng không thông tin cho tôi biết là đi đâu để tôi yên tâm. Tôi đã mất ăn, mất ngủ cả tuần nay.
2. Với nội dung về hành vi trên, tôi xin hỏi Luật sư là: VIỆC LÀM NHƯ VẬY CỦA CÔ TA CÓ VI PHẠM GÌ ĐẾN CÁC QUYỀN THĂM NOM, CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, DẠY DỖ HOẶC CÓ YẾU TỐ CẤU THÀNH KHÔNG? về phía tôi, tôi thấy hình như việc quản lý, chăm sóc, dạy dỗ, thăm nom của tôi với bé đang bị cô ta chủ ý cản trở gián tiếp thì phải.
Mong Luật Sư giúp đỡ tôi!
 Tư vấn về quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục sau khi ly hôn quy định như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trong trường hợp này con gái bạn 11 tuổi là người chưa thành niên nên sau khi ly hôn bạn vẫn có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau khi ly hôn mặc dù bạn không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng,

Tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì sau khi ly hôn bạn hoàn toàn có quyền thăm nom con mà không ai được phép cản trở.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 83 Luật hôn nhân gia đình quy định về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con với người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp nếu như có bằng chứng cho rằng vợ cũ của mình cố tình cắt liên lạc không cho bạn liên lạc được với con, cản trở bạn trong việc tiếp cận con, tiếp cận thông tin của con, cố tình gây khó khăn cho việc thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con của bạn thì đó là chính là căn cứ để cho rằng vợ cũ của bạn đã vi phạm khoản 3 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình đó là đã cản trở người không trực tiếp nuôi con là bạn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

6. Tư vấn ly hôn khi vợ giữ giấy đăng ký kết hôn ?

Xin hỏi luật sư, tôi năm nay 35 tuổi và kết hôn được 2 năm thì vợ chồng chúng tôi không sống chung với nhau nữa, chúng tôi đã sống ly thân hơn 1 năm nay. Bây giờ tôi muốn ly dị thì phải làm sao? Vợ chồng chúng tôi chưa có con và cũng không có tài sản gì hết. Hiện nay cô ấy đang giữ giấy kết hôn nên tôi không làm đơn được và tôi cũng không biết phải viết đơn như thế nào ?
Mong luật sư tư vấn giùm. Tôi xin cảm ơn!

Tư vấn thủ tục ly hôn, đơn ly hôn, nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.1975

Trả lời:

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..."

Như vậy bạn hoàn toàn có quyền ly hôn đơn phương mà không cần có sự đồng ý của vợ bạn.

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Chứng minh nhân dân của vợ, chồng bản sao có chứng thực

- Sổ hộ khẩu của vợ và chồng bản sao có chứng thực

- Giấy đăng ký kết hôn bản chính

- Giấy khai sinh của các con bản sao có chứng thực

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp).

Theo quy định tại các điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn tới Tòa án nhân dân nơi vợ bạn cư trú.

Tuy nhiên trường hợp nếu vợ bạn giữ giấy đăng ký kết hôn thì cũng không ảnh hưởng đến thủ tục xin ly hôn của bạn, bạn có thể làm như sau: Bạn liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đã đăng ký kết hôn trước đây để xin bản sao.

Trường hợp nếu nộp đơn cho Tòa án nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của Tòa mà bạn không thể bổ sung được thì trong quá trình thụ lý và giải quyết Tòa sẽ yêu cầu vợ bạn là người bổ sung.

Mẫu đơn bạn có thể tham khảo tại đây.

>> Đối với trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Có ly hôn được không khi vợ cố ý giữ giấy tờ hôn nhân?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật MInh KHuê