Ông N và bà D nói xin việc cho tôi làm giao dịch viên tại ngân hàng SHB. Đến ngày 15.1.2019 tôi chính thức đi làm và hứa không xin được hoàn trả đầy đủ tiền cho gia đình tôi. Và gọi điện thoại bảo gia đình tôi giao 140 triệu đồng, gia đình tôi đã giao đủ cách đây gần 3 tháng có đầy đủ giấy tờ, tin nhắn của ông Nguyễn xác nhận việc xin việc, nhưng nay đã qua ngày đi làm tôi chưa nhận được việc. Gia đinh tôi xin lại tiền thì không trả. Sau bảo chỉ trả 70 triệu. Gia đình tôi không đồng ý vì tiền đi vay và gia đình mẹ đã già đi chợ góp nhặt từng đồng. Ông N cậy cấp cao thách thức gia đình kiện sẽ kiện ngược lại đổ tội cho gia đình tôi tội vu khống. Xin luật sư tư vấn giúp cháu vì nhà cháu không hiểu rõ luật và vừa thoát khỏi hộ nghèo chỉ vì muốn cháu được ổn định tin tưởng vào họ hàng cũng như chức danh bộ đội mà vay mượn giao tiền ạ ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự: 1900.6162

Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung tư vấn:

1. Theo quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của ông N có thể có thể cấu thành các tội sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có nhờ ông Nguyễn xin việc hộ và đã giao cho ông ấy số tiền là 140 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì ông Nguyễn không giúp được mà cũng không trả lại tiền.

a, Với hành vi này của ông Nguyễn tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế mà có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy thì ông Nguyễn đã lợi dụng sự tín nhiệm của bạn tin tưởng ông ấy là trưởng phòng kế toán của Bộ Quốc Phòng và ông ấy có quan hệ với bà Dung có thể xin việc được cho bạn nhưng nay lại không xin được việc và cũng không trả lại tiền. Nếu như trước khi nhận tiền,ông ấy không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn, ông ấy không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Theo thông tin bạn cung cấp thì ông N đã lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt của bạn 140 triệu, như vậy đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 175.

b. Ngoài ra bạn có thể khởi kiện ông Nguyễn về tội nhận hối lộ theo quy đinh tại Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015:

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Như vậy, ông N có thể bị khởi tố theo một trong hai tội danh nêu ở trên. Trường hợp này bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý trường hợp này.

Lưu ý: trường hợp ông N mà bị xử lý theo tội danh nhận hối lộ thì bạn cũng có thể bị khởi tố vì tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Bạn cũng có thể kiện dân sự để kiện đòi tài sản:

Trường hợp ông ấy nhận tiền của bạn và mãi không xin được việc và cũng không trả lại tiền thì ông ấy có thể vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Trong trường hợp này thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết (đòi lại số tiền mình đã đưa cho ông ấy). Tranh chấp giữa bạn và ông ấy là tranh chấp về hợp đồng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bạn hãy gửi đơn đến tòa án để được giải quyết kèm theo các giấy tờ hợp đồng giao dịch để làm căn cứ kiện đòi tà sản.

a, Hình thức nội dung đơn khởi kiện

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

- Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

- Tên, địa chỉ của người bị kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

b. Tài liệu ,chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.