Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Thưa luật sư! Tôi có một thắc mắc như sau: Ông nội tôi mất đột ngột và không để lại di chúc, ông có tài sản để lại là mảnh đất và căn nhà có đủ sổ đỏ, giấy tờ. Ông nội tôi có ba người con, bố tôi và bác nữa đã mất rồi và mất sau ông, bây giờ còn lại một bác nữa và bà nội tôi. Nay các con cháu muốn để lại tài sản của ông cho đứa cháu trai duy nhất là con bác cả nhưng do bên xã báo là phải có chữ kí của đầy đủ con cháu mới có thể để lại cho đứa cháu trai duy nhất được. Tôi đang ở bên Nhật nên không thể về kí được hơn nữa bố mẹ tôi cũng ly hôn rồi và tôi ở với mẹ thì có cắt đứt được mối quan hệ bên nội không, nếu cắt đứt được thì tôi không liên quan đến tài sản trong gia đình, còn nếu không thì tôi vẫn phải về kí giấy đó hay tôi phải làm thế nào ạ? Nếu tôi nhận tài sản là tiền thì có chuyển qua nước ngoài được không và thủ tục như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp tôi!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 Cơ sở pháp lý

- Bộ luật Dân sự năm 2015

- Luật công chứng năm 2014

1. Có cắt đứt được mối quan hệ cha con ruột thịt không?

Hiện nay pháp luật cũng không thể định đoạt được vấn đề cắt đứt mối quan hệ ruột thịt vì nó rất thiêng liêng và nếu cắt đứt thì sẽ trái với lẽ tự nhiên. Quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ hình thành một cách tự nhiên bằng con đường huyết thống. Do đó, sự gắn bó tình cảm và mối liên hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ là quy luật tự nhiên, có tính bền vững bất biến bởi nguồn gốc huyết thống, vì vậy, quan hệ huyết thống tự nhiên không thể chấm dứt theo ý chí chủ quan của con người.

Khác với mối quan hệ ruột thịt, thì việc chấm dứt mối quan hệ với con nuôi đã được pháp luật thừa nhận trong mối quan hệ Khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
Do cơ sở hình thành quan hệ cha, mẹ, con giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi là bằng con đường nuôi dưỡng và xác lập theo ý chí của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, nên Luật Hôn nhân và gia đình quy định, cho phép chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Tuy nhiên, do tính chất thiêng liêng của quan hệ cha, mẹ, con nên việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi cũng chỉ được thực hiện trong 3 trường hợp nhất định, đó là:
- Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;
- Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;
- Cha mẹ nuôi đã có các hành vi xâm hại, lợi dụng con nuôi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình cũ. Mặt khác, việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi phải thực hiện theo thủ tục tư pháp và do Toà án giải quyết.
Như vậy, mối quan hệ của bạn và bố bạn sẽ không chấm dứt theo ý muốn của bạn được. Bạn vẫn là người liên quan đến tài sản thừa kế.
 

2. Người nước ngoài có được ủy quyền để khai nhận di sản không?

Như bạn nói, bố bạn đã mất thì bạn là người kế thừa phần di sản mà bố bạn nhẽ ra nhận được.

Theo quy định tại Điều 680 Bộ Luật Dân sự năm 2015 về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài quy định như sau:

- Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.

- Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Thủ tục khai nhận di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài vẫn tiến hành theo trình tự thông thường, được quy định cụ thể tại Luật Công chứng 2014 và Nghị định 29/2015/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

Việc thoả thuận phân chia di sản, việc khai nhận di sản phải được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản. Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 57 Luật Công chứng 2014.

Trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài, nếu người thừa kế ở nước ngoài không có điều kiện về Việt Nam lâu dài để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì có thể linh động lựa chọn một trong hai cách sau:

Thứ nhất: Một trong những người đồng thừa kế đến tổ chức công chứng để yêu cầu công chứng và cung cấp trước một bộ hồ sơ liên quan đến việc khai nhận di sản thừa kế. Người đang ở nước ngoài có thể gửi hồ sơ (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh quan hệ với người để lại di sản …) về nước trước để người thân ở Việt Nam làm thủ tục yêu cầu công chứng (có thể gửi bản sao).

Sau khi đầy đủ hồ sơ, tổ chức công chứng tiến hành thủ tục công chứng như thông thường. Sau 30 ngày niêm yết thông báo nếu không có khiếu nại, tố cáo gì thì tiến hành khai nhận di sản thừa kế. Lúc này, người đang ở nước ngoài có thể về nước, cùng các đồng thừa kế đến tổ chức công chứng để lập và ký văn bản khai nhận di sản thừa kế. Khi lập và ký văn bản trước sự chứng kiến của công chứng thì người đó xuất trình bản chính giấy tờ tùy thân và giấy tờ liên quan đến việc khai nhận di sản thừa kế của mình.

Thứ hai

Nếu không tiện gửi về thì người đang ở nước ngoài có thể ủy quyền để người trong nước thay mặt mình tiến hành thủ tục khai nhận di sản theo quy định của pháp luật.

Việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước mà người đó đang sinh sống, như Đại sứ quán, Lãnh sự quán.

Trong giấy ủy quyền ghi rõ các thông tin: thông tin về người ủy quyền và người được ủy quyền; căn cứ ủy quyền (là thông tin về việc thừa kế, về tài sản được thừa kế…). Đồng thời ghi rõ nội dung ủy quyền như: “Người được ủy quyền được thay mặt và nhân danh tôi tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.”

Sau khi có giấy ủy quyền của người đang ở nước ngoài gửi về thì người được ủy quyền có thể cùng với những đồng thừa kế khác của người để lại di sản đến tổ chức công chứng để yêu cầu tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Người được ủy quyền chỉ thực hiện các công việc trong phạm vi được ủy quyền.

Việc gửi giấy ủy quyền về Việt Nam cần xác thực lại một lần nữa cho chắc chắn sau đó tiến hành khai nhận di sản thừa kế.

Như vậy cách tốt nhất để bạn ủy quyền là bạn phải làm một văn bản ủy quyền tại Đại sứ quán Việt Nam bên Nhật Bản sau đó gửi giấy ủy quyền về Việt Nam rồi công chứng lại lần nữa là hoàn toàn có thể ủy quyền khai nhận di sản thừ kế.

3. Thuế thu nhập cá nhân cần nộp khi nhận di sản thừa kế.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân, thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản là bất động sản là thu nhập phải chịu thuế. 

Tuy nhiên, đối với thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản được hưởng thừa kế, người chuyển nhượng sẽ không phải chịu thuế thu nhập cá nhân trong các trường hợp:

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

Trường hợp người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài khi nhận di sản thừa kế  là bất động sản có thể chuyển nhượng bất động sản và có quyền được chuyển số tiền đó ra nước ngoài theo quy định của Pháp lệnh Ngoại hối. Cụ thể, công dân Việt Nam đại diện cho người thừa kế ở nước ngoài được liên hệ với Ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối để làm thủ tục chuyển, mang ngoại tệ (có được do thừa kế) ra nước ngoài. L

4. Hồ sơ chuyển tiền thừa kế ra nước ngoài

Hồ sơ để làm thủ tục bao gồm:

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc chia thừa kế hoặc Di chúc hoặc Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế giữa những người thừa kế hợp pháp.

- Giấy chứng tử/Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người để lại di sản đã chết.

- Giấy tờ chứng minh số tiền cần chuyển ra nước ngoài có nguồn gốc từ tài sản được thừa kế

- Giấy tờ còn hiệu lực chứng minh người hưởng thừa kế đang ở nước ngoài: Visa/ thẻ định cư/ Hộ chiếu

Theo quy định tại Quyết định 2156/QĐ-NHNN:

- Công dân Việt Nam đại diện cho người thừa kế ở nước ngoài được chuyển, mang mỗi năm tối đa không quá 10.000 USD hoặc 20% số tiền nếu tổng số tiền được thừa kế lớn hơn 50.000 USD. Trường hợp số tiền xin chuyển, mang lớn hơn 50.000 USD, Công dân Việt Nam phải xuất trình giấy tờ chứng minh thực có số tiền xin chuyển cho mục đích thừa kế.

- Số tiền còn lại (bằng đồng Việt nam hoặc ngoại tệ), công dân Việt Nam được gửi vào Ngân hàng được phép để chuyển dần (bao gồm gốc và lãi phát sinh) trong các năm tiếp theo, theo phương thức Lệnh chuyển tiền định kỳ đã được thỏa thuận giữa Ngân hàng được phép và người có yêu cầu chuyển ngoại tệ nhưng mỗi năm tối đa không quá mức quy định trên. Trường hợp gửi vào Ngân hàng được phép bằng đồng Việt Nam, Công dân Việt Nam được mua ngoại tệ theo tỷ giá bán ngoại tệ của ngân hàng được phép tại thời điểm chuyển ngoại tệ theo thoả thuận giữa Ngân hàng được phép và người có yêu cầu chuyển ngoại tệ trong Lệnh chuyển tiền định kỳ.

5. Thủ tục chuyển tiền thừa kế ra nước ngoài

Theo quy định tại Nghị định 70/2014/NĐ-CP thì thủ tục chuyển tiền thừa kế ra nước ngoài được quy định như sau:

- Người chuyển tiền tới điểm giao dịch của tổ chức tín dụng để làm “Phiếu chuyển tiền” Xuất trình giấy tờ liên quan tới mục đích chuyển tiền

- Sau khi hoàn thành phiếu chuyển tiền, nộp các giấy tờ cần thiết, nộp số tiền chuyển và phí dịch vụ chuyển tiền thì nhân viên ngân hàng có nghĩa vụ cập nhật dữ liệu vào hệ thống của ngân hàng và trả lại giấy biên nhận cho khách hàng.

- Người thụ hưởng cầm theo giấy tờ tùy thân tới các Ngân hàng để nhận khoản tiền được chuyển từ việt Nam sang nước ngoài. Nếu chuyển theo mã SWIFT Code thì ngân hàng sẽ cấp cho người chuyển tiền một dãy số gồm 10 chữ số. người chuyển sẽ chuyển thông tin lại cho người thụ hưởng các thông tin cần thiết về mã SWIFT code.

Mã Swift còn được gọi là BIC (viết tắt của Business Identifier Codes). Đây là một mã định danh giúp bạn nhận diện được ngân hàng đó nằm ở vị trí nào, thuộc quốc gia nào trên thế giới. Thông thường, mã Swift chỉ cần thiết khi thực hiện giao dịch nước ngoài, còn đối với giao dịch trong nước thì không cần.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê