1. Mở đầu vấn đề
Nghiên cứu phạm trù "chính sách pháp luật" là một trong những nhiệm vụ cơ bản của khoa học pháp lý, trước hết, là của lý luận nhà nước và pháp luật, của khoa học chính sách công, của khoa học chính sách pháp luật, về phạm trù này đã và đang có các cuộc tranh luận khoa học rất sôi nổi và trong quá trình đó các nguyên nhân của sự hình thành phạm trù đó, vai trò và vị trí của nó trong hệ thống các phạm trù khác của khoa học pháp lý và khoa học chính sách công được làm sáng tỏ.
Chính sách pháp luật là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thôhg của các cơ quan nhà nước và của các thiêỉ chế phi nhà nước để xây ãựng cơ chếđỉêu chỉnh pháp luật có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được mục tiêu bảo đảm, bảo vệ đây đủ nhất các quỳên và tự do của con người và của công dân, xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền, hình thành và xây dựng xã hội pháp quyền, xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật và đời sống phấp luật của xã hội và của cá nhân.
Lịch sử phát triển khoa học cho thấy, khái quát, tổng kết, kết tinh lý luận khoa học là công việc khó khăn, lâu dài. Hiện nay, các nhà luật học Việt Nam có nhiệm vụ cấp bách là xây dựng thuật ngữ pháp luật chung và thiết kế nhiều phạm trù khi nghiên cứu vấn đề chính sách pháp luật (theo Võ Khánh Vinh: Chính sách pháp luật: Khái niệm và các dấu hiệu, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 9/2015).
2. Vai trò của chính sách pháp luật
Hiện nay, phương diện phạm trù của chính sách pháp luật được các nhà luật học, nhà chính trị học, nhà chính sách công, nhà văn hóa học và những người đại diện cho các ngành khoa học xã hội khác tiến hành nghiên cứu, đánh giá và làm sáng tỏ. Đặc biệt vấn đề chính sách pháp luật được đặt trong không gian chính trị - pháp luật, trong quá trình chuyển đổi xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Nhiều nhà khoa học nước ngoài coi chính sách pháp luật là phạm trù của thế kỷ XXI và phạm trù đó giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống các phạm trù khác của khoa học pháp lý (theo A.v. MaTko, V.A. Zatonskij: Chính sách pháp luật: Những cơ sở lý luận và thực tiễn: Tố hợp phương pháp giảng dạy, Sđd, tr.133-143 (bản tiếng Nga); O.Ju. Rubakov, Ju.s. Jureva: Chính sách pháp luật và các đặc điểm cơ bản, Thông tin của Học viện quốc gia Saratov về pháp luật, số 6/2009, tr.14 (bản tiếng Nga).
3. Phạm trù chính sách pháp luật – phạm trù cơ bản
Vì sao phạm trù "chính sách pháp luật" và có lẽ cả phạm trù "đời sống pháp luật" có thể được coi là phạm trù cơ bản, quan trọng của khoa học pháp lý trong thế kỷ XXI?
Thực chất là ở chỗ, mọi phạm trù khi được đưa vào bộ máy khoa học, về mặt thực tế, bao giờ cũng phải "đúng lúc, kịp thời", tức là khi đã có đủ các điều kiện tương ứng, khi đã tích lũy được những hiểu biết cần thiết, các khái niệm gần gũi nhất với nó đã được hình thành, đã có các phương pháp nghiên cứu mói do các tình tiết đó hoặc các tình tiết khác đòi hỏi,...
Điều đó đã hoàn toàn diễn ra đối với phạm trù chính sách pháp luật. Lúc đầu, các thông tin khoa học về hiện tượng đó được hình thành trong học thuyết "chính sách pháp luật" - học thuyết về pháp luật lý tưởng, pháp luật cần phải có, sau đó thực tiễn đòi hỏi phải có những tổng kết, khái quát lại các thông tin như vậy và lúc đó người ta nói về chính sách pháp luật phải được các cơ quan nhà nước đưa vào cuộc sống.
Ở Liên Xô trước đây, vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XX đã xuất hiện cách tiếp cận hệ thống và các phương pháp khác có khả năng nghiên cứu một cách đầy đủ giá trị hiện tượng phức tạp "chính sách pháp luật", đã có được những nguồn lực nhận thức cần thiết để phân tích các mối liên hệ tồn tại trong hiện tượng có phạm vi rộng lớn đó, cũng như sự tác động lẫn nhau của nó vói các hiện tượng rộng lớn hơn (ví dụ, một mặt, với hệ thống pháp luật, sự phát triển pháp luật, đời sống pháp luật, và mặt khác, với chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa, chính sách môi trường, chính sách thông tin, chính sách tôn giáo, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách đối ngoại...).
Tất cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu hiện tượng nói trên và ngay từ đầu thế kỷ XXI đã hình thành nên lý luận chính sách pháp luật và phạm trù tương ứng cũng được hình thành. Không phải ngẫu nhiên mà người ta hiểu các phạm trù pháp luật là các khái niệm pháp luật rộng lớn tối đa với tư cách là kết quả của sự tổng kết hoạt động pháp lý - nhà nước đang hiện có.
Việc xây dựng và đưa phạm trù "chính sách pháp luật" vào bộ máy khoa học, một mặt, cần phải có sự hình thức hóa thông tin mới về đối tượng nghiên cứu, sự tổng kết các sự kiện, dữ liệu đã thu nhận được, tính có luận cứ khoa học về tính duy nhất của nó trong sự so sánh với các hiện tượng pháp luật khác.
Ở nghĩa này, có đầy đủ cơ sở để coi phạm trù chính sách pháp luật thuộc về các khái niệm pháp luật tổng hợp, tạo nên hạt nhân khái niệm trong phương diện đối tượng của khoa học pháp lý.
4. Thuộc tính tổng hợp của chính sách pháp luật
Trên cơ sở phân tích ở trên có thể khẳng định rằng, chính sách pháp luật không phải là phạm trù thông thường mà là phạm trù nhiều phương diện, nhiều cấp độ và vói tư cách như vậy, nó có những thuộc tính tổng hợp sau đây:
- Tính hướng đích, thể hiện ở chỗ, trong cơ sở, nền tảng của chính sách pháp luật bao giờ cũng có một hệ thống nhất định các mục tiêu và các tư tưởng, quan điểm phản ánh những yếu tố quan trọng của tổ chức đời sống pháp luật (đó là các định hướng chính trị - pháp lý cụ thể, được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, và ảnh hưởng đến sự hình thành ý thức pháp luật của công dân, bảo đảm điều kiện cần thiết cho quá trình thực hiện có hiệu quả các quyền, tự do và nghĩa vụ của công dân);
Tính hợp lý, thuộc tính tổng họp này được thể hiện ở chỗ, chính sách pháp luật khi được dựa vào trật tự pháp luật được thừa nhận chung, bằng cách đó nó phản ánh trật tự chính trị đang tồn tại trong đất nước (ở đây quan niệm về tính họp pháp của quyền lực gắn liền với uy tín của quyền lực, với sự tin tưởng của phần lớn dân cư vào trật tự pháp luật đang tồn tại, cũng như đối với sự tồn tại của các giá trị nền tảng có ý nghĩa quan trọng);
Ý nghĩa phố biến, thuộc tính tổng hợp này thê’ hiện ở chỗ, bằng việc phản ánh được các nhu cầu xã hội, chính sách pháp luật bảo đảm tính ổn định xã hội và tạo ra các điều kiện để xác lập đời sống xứng đáng và sự phát triển tự do của con người, điều đó dẫn đến sự cần thiết của việc hình thành xã hội pháp quyền trong đất nước (chính xã hội pháp quyền là cơ sở mà kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền có thể dựa vào đó).
Chính sách pháp luật tạo thành nền tảng tổ chức của toàn bộ đời sống pháp luật, soạn thảo chiến lược và sách lược phát triêh pháp luật, thể hiện là một trong những hình thức thực hiện chính sách của Nhà nước, là phương tiện (công cụ) của việc hợp pháp hóa về mặt pháp luật đường lối chính trị chính thức của đất nước. Chiến lược phát triển pháp luật là hệ thống phản ứng có tính hướng đích và lâu dài trong phạm vi hệ thống pháp luật về nhu cầu toàn cầu của hiện tại và trong tương lai. Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật đó phải phù họp với Hiến pháp nói chung và có nền tảng tư tưởng là đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sách pháp luật, về mặt sách lược, hướng đến việc hoàn thiện tổng thể các phương tiện pháp luật, bảo đảm cho việc thực hiện các nhiệm vụ do xã hội và Nhà nước đặt ra bằng các nguồn lực pháp lý, còn về mặt chiến lược, hướng đến việc sử dụng các nguồn lực đó để phát triển một cách tối ưu tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ngoài ra, giá trị cơ bản của phạm trù "chính sách pháp luật" thể hiện chính ở chỗ, nó thể hiện cho cái gì đó mang tính thống nhất, nhất quán, được xây dựng một cách lôgic. Đồng thời với điều đó, tư tưởng chính sách pháp luật, về mặt hiện thực, cần phải liên kết, tích hợp ở mình cả hoạt động của các nhà khoa học - luật học, lẫn các giải pháp thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, đó không phải là hai mặt của một hiện tượng mà là các sắc thái tư tưởng khác nhau của một khái niệm.
Khi xây dựng bất kỳ phạm trù mói nào trong khoa học đều đòi hỏi phải làm sáng tỏ các giới hạn lôgic của nó, xác định mối tương quan của nó với các phạm trù khác gần tương đồng. Dưới đây làm sáng tỏ các giới hạn lôgic và mối tương quan của chính sách pháp luật và một số phạm trù và khái niệm trong khoa học pháp lý.
5. Chính sách pháp luật và chính sách pháp lý
Trước hết, cần nói về mối tương quan của phạm trù chính sách pháp luật và phạm trù chính sách pháp lý. Hiện nay, trong sách báo pháp lý có hai quan điểm về vâh đề đó. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phạm trù chính sách pháp lý có nội dung rộng hơn phạm trù chính sách pháp luật. Theo quan điểm này, chính sách pháp luật chỉ có nhiệm vụ hình thành và phát triển cơ sở quy phạm của điều chỉnh pháp luật, do đó, đồng nhất chính sách pháp luật vói chính sách xây dựng pháp luật. Quan điểm thứ hai cho rằng, phạm trù chính sách pháp lý và phạm trù chính sách pháp luật là đồng nghĩa.
Nói chung, sự "phân biệt" phạm trù chính sách pháp luật với phạm trù chính sách pháp lý không có ý nghĩa đặc biệt, bởi lẽ, không có cơ sở khoa học đê’ phân biệt thuật ngữ (khái niệm, phạm trù) chính sách pháp luật với thuật ngữ (khái niệm, phạm trù) chính sách pháp lý, trong hai thuật ngữ đó có cùng một khái niệm về nội dung khách quan của chúng. Do vậy, thuật ngữ, khái niệm, phạm trù chính sách pháp luật đồng nghĩa ở nội dung khách quan với thuật ngữ, khái niệm, phạm trù chính sách pháp lý.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).