Câu hỏi: Xin chào Luật Minh Khuê, tôi muốn hỏi một trường hợp như sau: M thuê K (20 tuổi) và L (17 tuổi) vận chuyển trái phép lô hàng trị giá 700 triệu đồng từ Trung Quốc về Việt Nam. Khi K và L vận chuyển hàng qua biên giới theo đường mòn vào Việt Nam thì bị bắt giữ.

Vậy tội danh và khung hình phạt của M, K, L là gì?

L (17 tuổi) phải chịu hình phạt nặng nhất là bao nhiêu năm tù?

Nếu trong lô hàng M có giấu 2000 viên ma túy tổng hợp đưa về Việt Nam để bán nhưng K và L không biết thì tội danh của A, B và C có thay đổi không? Tại sao? 

Cấu thành của các tội trên bao gồm những yếu tố nào?

Trong trường hợp L mới 15 tuổi 5 tháng thì L có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Vì sao? 

Mong các luật sư giải đáp thắc mắc. Xin chân thành cảm ơn! 

Trả lời: 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 

1. Cơ sở pháp lý 

Bộ luật Hình sự năm 2015

2. Giải đáp thắc mắc

2.1. Tội danh và khung hình phạt cho hành vi phạm tội của M, K và L

Hành vi của M được xác định là Tội buôn lậu, tội này được quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015. M phải chịu phạt tiền 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù 07 năm đến 15 năm vì lô hàng của M có giá trị 700.000.000 đồng đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều này. 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

Tội buôn lậu được cấu thành bởi các yếu tố sau: 

Mặt khách quan: Có hành vi buôn bán trái phép từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài các đối tượng như hàng hóa; tiền; ngoại tệ; kim khí, đá quý;...Việc buôn bán trái phép được thể hiện ở chỗ mua hoặc bán không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép xuất, nhập khẩu và các quy định khác của Nhà nước về hải quan. Thời điểm hoàn thành tội phạm này tính từ thời điểm đưa hàng, tiền qua biên giới một cách trái phép vào Việt Nam. 

Mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Khách thể: hành vi phạm tội buôn lậu xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu.

Chủ thể: chủ thể của tội buôn lậu là bất kỳ người, pháp nhân nào có năng lực trách nhiệm hình sự. 

Hành vi của K và L phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tội này được quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: "3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.". Khung hình phạt cho hành vi phạm tội của B và C là phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới được hiểu là hành vi mang (đưa) hàng hóa từ Việt Nam sang nước ngoài hoặc từ nước ngoài về Việt Nam trái với quy định của Nhà nước, tội này được cấu thành bởi các yếu tố sau: 

Mặt khách quan: có hành vi đưa (mang) hàng hóa, tiền tệ qua biên giới Việt Nam một cách trái phép. Việc vận chuyển trái phép được thể hiện qua hành vi vận chuyển hàng hóa, tiền tệ nhưng không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép (tức không đúng với quy định của Nhà nước về vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua biên giới Việt Nam). Đối tượng vận chuyển bao gồm hàng hóa được phép lưu thông và hàng cấm lưu thông và tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. Thời điểm hoàn thành tội phạm được tính từ thời điểm đưa hàng hóa qua khỏi biên giới (ra hoặc vào) Việt Nam. 

Mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện tội phạm trên với lỗi cố ý.

Khách thể: các hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến hỏa động quản lý kinh tế của nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách quản lý tiền tệ của nhà nước.

Chủ thể: chủ thể của tội phạm vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới là bất kỳ người, pháp nhân nào có năng lực trách nhiệm hình sự. 

2.2. L (17 tuổi) phải chịu hình phạt nặng nhất là bao nhiêu năm tù? 

Theo như trường hợp trên, L đã phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015: "3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm." thì hình phạt nặng nhất dành cho L là phạt tù có thời hạn là 10 năm. Nhưng L mới 17 tuổi nên phải áp dụng theo khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 hình phạt tù có thời hạn đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi như sau:

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;...

 

Vậy hình phạt nặng nhất mà tòa án có thể áp dụng đối với L là không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, ở đây là 10 năm tù thì hình phạt nặng nhất L phải chịu là phạt tù 7 năm 6 tháng.

2.3. 

Nếu trong lô hàng M có giấu 2000 viên ma túy tổng hợp đưa về Việt Nam để bán nhưng K và L không biết thì tội danh của M, K và L có thay đổi không? Tại sao? 

Nếu trong lô hàng M có giấu 2000 viên ma túy tổng hợp đưa về Việt Nam để bán những K và L không biết thì tội danh của M là tội buôn lậu theo điểm a khoản 3 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 và thêm tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, còn tội danh của K và L vẫn là vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015). 

Hình phạt M phải chịu là phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 đến 15 năm cho tội buôn lậu và phạt tù 20 năm, tù chung chân hoặc tử hình cho tội mua bán trái phép chất ma túy. 

Tội mua bán trái phép chất ma túy được cấu thành bởi các yếu tố sau: 

Mặt khách quan: có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho người khác. Bán không kể có thu lợi hay không. Vận chuyển, tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. Dùng chất ma túy (thay cho tiền) nhằm trao đổi thanh toán trái phép (chẳng hạn mua hàng hóa rồi dùng chất ma túy để trả thay vì trả tiền). Dùng tài sản không phải tiền (như vàng, xe gắn máy...) nhằm đem trao đổi, thanh toán...lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác. 

Mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện tội phạm nêu trên với lỗi cố ý.

Khách thể: hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.

Chủ thể: Chủ thể của các tội phạm nêu trên là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy. 

Tội danh của K và L vẫn được xác định là tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015) vì khi vận chuyển hàng hóa cho M từ biên giới về Việt Nam thì K và L không được biết hay tiết lộ về lô hàng mà mình đang vận chuyển. Việc K và L đồng ý vận chuyển lô hàng có chứa chất ma túy đó hoàn toàn là vô tình, vì K và L không hề biết trong lô hàng mình đang vận chuyển lại có chứa ma túy. Trong trường hợp này K và L không hề có lỗi cố ý đã là không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội "vận chuyển trái phép chất ma túy". Do đó, K và L không biết có ma túy thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội vận chuyển trái phép chất ma túy là lỗi của người vận chuyển là lỗi cố ý. Vì vậy, tội danh của K và L không thay đổi. 

2.4. Trong trường hợp L mới 15 tuổi 5 tháng thì L có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Vì sao? 

Trong trường hợp L mới 15 tuổi 5 tháng thì L không phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì căn cứ theo khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Tội của L không nằm trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cho người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên L không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp C mới 15 tuổi 5 tháng. 

* * * * *

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: [email protected]  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

     Rất mong nhận được sự hợp tác!

     Trân trọng./.

     Bộ phận Tư vấn Pháp luật Công ty Luật Minh Khuê.