Một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của ngườỉ tiến hành tố tụng (Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Nguyền tắc này nhằm đảm bảo cho vụ án được tiến hành một cách khách quan và chính xác, đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân vào sự công minh của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án. Để đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, luật tố tụng hình sự đã có những quy định chặt chẽ về việc thay đổi người tiến hành tố tụng.

1. Nguyên tắc và các trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.

1.1. Nguyễn tắc cốt lõi

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản, là linh hồn của một nền tư pháp công bằng và minh bạch. Điều 21 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025 (BLTTHS 2015) quy định rõ: "Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ".   

Nguyên tắc này không chỉ là một quy định mang tính thủ tục mà còn là nền tảng đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện một cách độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và dựa trên những chứng cứ khách quan của vụ án. Việc pháp luật quy định các trường hợp cụ thể phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc này, nhằm mục đích phòng ngừa từ sớm những nguy cơ có thể dẫn đến sự thiên vị, đảm bảo rằng phán quyết của Tòa án là kết quả của một quá trình tố tụng công minh.  

1.2. Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Điều 49 BLTTHS 2015, quy định các trường hợp chung mà bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào (bao gồm Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án) cũng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. Các trường hợp này được phân thành ba nhóm chính:   

  • Nhóm 1: Có quan hệ với các bên trong vụ án: Người tiến hành tố tụng phải bị thay đổi nếu họ "đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo". Khái niệm "người thân thích" được giải thích cụ thể tại điểm e, khoản 1, Điều 4 BLTTHS 2015, bao gồm một phạm vi rộng các mối quan hệ gia đình như vợ, chồng, cha mẹ, con cái, ông bà, anh chị em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột.... Quy định này nhằm loại bỏ hoàn toàn khả năng người tiến hành tố tụng bị chi phối bởi các mối quan hệ huyết thống, gia đình.   
  • Nhóm 2: Đã tham gia tố tụng với tư cách khác: Người tiến hành tố tụng phải bị thay đổi nếu họ "đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó". Việc một người đã tham gia vụ án với một vai trò tố tụng khác có thể hình thành những định kiến, nhận định ban đầu hoặc nắm giữ những thông tin theo một chiều hướng nhất định, từ đó ảnh hưởng đến sự vô tư khi đảm nhận vai trò của người tiến hành tố tụng.   
  • Nhóm 3: Có căn cứ rõ ràng khác cho thấy sự thiếu vô tư: Đây là một quy định "mở", cho phép xem xét các trường hợp không được liệt kê cụ thể nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiên vị: "Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ". Để làm rõ quy định này, thực tiễn xét xử và các văn bản hướng dẫn đã đưa ra một số ví dụ như: người tiến hành tố tụng có quan hệ tình cảm, bạn bè thân thiết, quan hệ kinh tế (vay nợ, góp vốn kinh doanh...), hoặc là anh em kết nghĩa với một trong các bên tham gia tố tụng. Những mối quan hệ này, dù không phải là "người thân thích" theo định nghĩa của luật, nhưng rõ ràng có thể tác động đến tâm lý và hành vi của người tiến hành tố tụng.   

Bị hại, đương sự là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Những người này và người đại diện, người thân thích của họ hoặc của bị can, bị cáo không thể vô tư trong khi tiến hành tố tụng, xem xét giải quyết những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chính minh, của người thân hoặc của người mà mình đại diện, vì vậy họ không thể đồng thời là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án.

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS năm cũ giải thích người thân thích là người có quan hệ như sau với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo: Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; là cụ nội, cụ ngoại, là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

Người tiến hành tố tụng cũng phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu như họ đã tham gia tố tụng trong vụ án đó với tư cách người bào chữa. Người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội trong tố tụng hình sự, khi tham gia tố tụng họ có trách nhiệm đưa ra những chứng cứ gỡ tội để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong khi đó, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng là phải xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, không được coi nhẹ mặt nào, buộc tội cũng như gỡ tội. Vì vậy, người bào chữa không thể đảm bảo tính khách quan, vô tư trong khi tiến hành tố tụng.

Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản là người tham gia tố tụng, có nghĩa vụ cung cấp những chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Những người này không thể đồng thời là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án, vì lúc đó họ vừa là người cung cấp chứng cứ, vừa là người thu thập, kiểm tra, đánh giá những chứng cứ đó, như vậy sẽ không đảm bảo sự khách quan trong quá trình chứng minh để giải quyết vụ án.

Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia trong vụ án khi có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt để phiên dịch cho những người này trong quá trình tố tụng hoặc trong trường hợp có tài liệu không được thể hiện bằng tiếng Việt. Sự giao tiếp trong quá trình giải quyết vụ án và việc xác định sự thật của vụ án phụ thuộc một phần vào người phiên dịch, người dịch thuật. Vì vậy, người tiến hành tố tụng không đồng thời là người phiên dịch, người dịch thuật để đảm bảo sự khách quan.

Ngoài những trường hợp trên, người tiến hành tố tụng còn phải từ chối tiến hành hoặc bị thay đổi nếu như có căn có rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ như: Có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ bị mua chuộc, bị đe doạ hoặc có những quan hệ ràng buộc khác với những người tham gia tố tụng như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế... Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên toà xét xử vụ án hình sự kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm và thư kí toà án là người thân thích với nhau. Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 49 BLTTHS 2015 còn những căn cứ cụ thể khác do luật quy định đối với từng người tiến hành tố tụng.

2. Thủ tục yêu cầu thay đổi và thẩm quyền quyết định

2.1. Chủ thể có quyền đề nghị thay đổi

Để cơ chế thay đổi người tiến hành tố tụng được vận hành, pháp luật cần xác định rõ những chủ thể nào có quyền khởi xướng yêu cầu này. Điều 50 BLTTHS 2015 đã liệt kê cụ thể các chủ thể có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bao gồm ba nhóm chính:  

  • Người tiến hành tố tụng: Chỉ có Kiểm sát viên có quyền này. Đây là một vai trò đặc biệt, thể hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Khi phát hiện Điều tra viên, Thẩm phán, hoặc người tiến hành tố tụng khác có dấu hiệu thiếu khách quan, Kiểm sát viên có quyền và trách nhiệm đề nghị thay đổi để đảm bảo tính đúng đắn của quá trình tố tụng.   
  • Người bị buộc tội, bị hại và các bên liên quan: Bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ. Đây là những người có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả vụ án, do đó họ có quyền yêu cầu thay đổi để bảo vệ mình khỏi sự thiên vị.   
  • Người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi: Bao gồm người bào chữa (cho người bị buộc tội) và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.   

Cần lưu ý rằng, những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.   

2.2. Quy trình và thẩm quyền quyết định thay đổi trong Tố tụng Hình sự

Thẩm quyền quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng được phân định rõ ràng tùy thuộc vào chức danh của người bị đề nghị thay đổi và giai đoạn tố tụng (trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa). Sự phân chia này phản ánh một sự chuyển giao quyền lực hợp lý từ quản lý hành chính-tố tụng sang quyền lực xét xử độc lập.

Trước phiên tòa, các quyết định mang tính chất tổ chức, phân công nhân sự, thuộc về người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, khi phiên tòa bắt đầu, quyền lực tư pháp được trao trọn vẹn cho Hội đồng xét xử (HĐXX). Việc trao cho HĐXX quyền quyết định thay đổi thành viên của chính mình hoặc Kiểm sát viên ngay tại phiên tòa khẳng định nguyên tắc độc lập xét xử, giúp phản ứng nhanh chóng với các tình huống phát sinh mà không cần chờ đợi quyết định hành chính từ cấp trên.

Đối với Điều tra viên, Cán bộ điều tra (Điều 51 BLTTHS 2015), việc thay đổi do Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định. Nếu người bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, việc điều tra vụ án sẽ do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành để đảm bảo tính khách quan. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi; nếu không đồng ý thì phải trả lời Viện kiểm sát bằng văn bản và nêu rõ lý do.   

Đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên (Điều 52 BLTTHS 2015) việc thay đổi do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định. Nếu người bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát, thẩm quyền quyết định thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Việc thay đổi do HĐXX quyết định. Nếu HĐXX chấp nhận yêu cầu thay đổi, họ sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa để Viện kiểm sát cử người thay thế.   

Đối với Thẩm phán, Hội thẩm (Điều 53 BLTTHS 2015) việc thay đổi do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định. Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án, thẩm quyền quyết định thuộc về Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp. Việc thay đổi do HĐXX quyết định trước khi bắt đầu phần xét hỏi, thông qua hình thức biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến. Nếu phải thay đổi, HĐXX sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa.   

3. Thực tiễn áp dụng

Pháp luật trao cho các bên quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, nhưng quyền này luôn đi kèm với nghĩa vụ chứng minh. Mối quan hệ tương hỗ này tạo ra một cơ chế cân bằng, vừa đảm bảo các yêu cầu chính đáng được xem xét, vừa ngăn chặn việc lạm dụng quyền để gây khó khăn, trì hoãn quá trình tố tụng.

Thách thức lớn nhất đối với người đề nghị là chứng minh căn cứ "có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ", vì đây là một tình tiết mang tính định tính. Theo nguyên tắc chung, người yêu cầu có nghĩa vụ đưa ra các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở và hợp pháp.   

Các loại chứng cứ có thể được thu thập và sử dụng bao gồm:

  • Tài liệu, văn bản: Các hợp đồng kinh tế, giấy tờ vay nợ, giấy tờ chứng minh quan hệ họ hàng không thuộc phạm vi "người thân thích" theo luật định nhưng vẫn có sự gắn bó mật thiết, các tài liệu thể hiện sự sở hữu chung tài sản...
  • Dữ liệu điện tử: Tin nhắn, email, các bài đăng trên mạng xã hội, bản ghi âm, ghi hình các cuộc trao đổi thể hiện thái độ định kiến, thiên vị hoặc có lợi ích liên quan đến vụ án.
  • Lời khai của người làm chứng: Lời khai của những người biết rõ về mối quan hệ thân thiết hoặc xung đột lợi ích giữa người tiến hành tố tụng và các bên liên quan.

Mặc dù người yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh, các cơ quan có thẩm quyền khi nhận được đơn cũng có trách nhiệm xác minh, làm rõ các tình tiết được nêu để ra quyết định một cách khách quan và đúng đắn.

Kết luận

Việc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là một chế định pháp lý quan trọng, là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nguyên tắc vô tư, khách quan trong hoạt động tư pháp. Pháp luật đã quy định tương đối đầy đủ và chi tiết về các trường hợp phải thay đổi, chủ thể có quyền yêu cầu, cũng như trình tự, thẩm quyền giải quyết đối với từng chức danh tố tụng ở các giai đoạn khác nhau.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.