Luật sư tư vấn:

Một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của ngườỉ tiến hành tố tụng (Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Nguyền tắc này nhằm đảm bảo cho vụ án được tiến hành một cách khách quan và chính xác, đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân vào sự công minh của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án. Để đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, luật tố tụng hình sự đã có những quy định chặt chẽ về việc thay đổi người tiến hành tố tụng.

1. Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Căn cứ Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoậc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

- Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Bị hại, đương sự là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Những người này và người đại diện, người thân thích của họ hoặc của bị can, bị cáo không thể vô tư trong khi tiến hành tố tụng, xem xét giải quyết những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chính minh, của người thân hoặc của người mà mình đại diện, vì vậy họ không thể đồng thời là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 03/2004/NQ- HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS năm 2003 giải thích người thân thích là người có quan hệ như sau với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo: Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; là cụ nội, cụ ngoại, là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

Người tiến hành tố tụng cũng phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu như họ đã tham gia tố tụng trong vụ án đó với tư cách người bào chữa. Người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội trong tố tụng hình sự, khi tham gia tố tụng họ có trách nhiệm đưa ra những chứng cứ gỡ tội để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong khi đó, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng là phải xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, không được coi nhẹ mặt nào, buộc tội cũng như gỡ tội. Vì vậy, người bào chữa không thể đảm bảo tính khách quan, vô tư trong khi tiến hành tố tụng.

>> Xem thêm:  Bộ luật tố tụng dân sự là gì ? Đối tượng, phương pháp điều chỉnh củabộ luật tố tụng dân sự ?

Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản là người tham gia tố tụng, có nghĩa vụ cung cấp những chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Những người này không thể đồng thời là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án, vì lúc đó họ vừa là người cung cấp chứng cứ, vừa là người thu thập, kiểm tra, đánh giá những chứng cứ đó, như vậy sẽ không đảm bảo sự khách quan trong quá trình chứng minh để giải quyết vụ án.

Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia trong vụ án khi có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt để phiên dịch cho những người này trong quá trình tố tụng hoặc trong trường hợp có tài liệu không được thể hiện bằng tiếng Việt. Sự giao tiếp trong quá trình giải quyết vụ án và việc xác định sự thật của vụ án phụ thuộc một phần vào người phiên dịch, người dịch thuật. Vì vậy, người tiến hành tố tụng không đồng thời là người phiên dịch, người dịch thuật để đảm bảo sự khách quan.

Ngoài những trường hợp trên, người tiến hành tố tụng còn phải từ chối tiến hành hoặc bị thay đổi nếu như có căn có rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ như: Có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ bị mua chuộc, bị đe doạ hoặc có những quan hệ ràng buộc khác với những người tham gia tố tụng như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế... Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên toà xét xử vụ án hình sự kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm và thư kí toà án là người thân thích với nhau. Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 49 BLTTHS còn những căn cứ cụ thể khác do luật quy định đối với từng người tiến hành tố tụng.

2. Quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Căn cứ điều 50, bộ luật tố tụng hình sưn năm 2015 thì những người có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 50 BLTTHS bao gồm:

- Kiểm sát viên: Kiểm sát viên có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tố tụng, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật. Mặt khác, kiểm sát viên còn thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, thay mặt nhà nước để buộc tội bị cáo nhằm bảo vệ những quan hệ xã hội được nhà nước bảo vệ đã bị tội phạm xâm hại. Vì vậy, việc đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng họ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ vừa là nhiệm vụ, vừa là quyền hạn của kiểm sát viên.

- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và đại diện hợp pháp của họ: Những chủ thể này bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có các quyền lợi, nghĩa vụ dân sự liên quan trong vụ án. Việc giải quyết vụ án như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền và nghĩa vụ của họ. Hơn ai hết, họ hết sức mong muốn việc giải quyết vụ án đảm bảo được các quyền và lợi ích pháp lí của mình. Họ có quyền đòi hỏi việc giải quyết vụ án phải khách quan, vô tư và đúng đắn. Vì vậy, luật tố tụng hình sự quy định họ có quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Xem thêm: Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS năm 2003.

Đại diện hợp pháp của những người này cũng có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người mà họ đại diện.

- Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự: Những người này tham gia tố tụng không nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình nhưng họ vẫn có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Quy định này nhằm giúp họ thực hiện được vai trò tố tụng của mình trong việc bào chữa cho bị can, bị cáo và bảo vệ quyền lợi cho các đương sự khác. Mặt khác, quy định này cũng góp phần đảm bảo được sự bình đẳng trước toà án.

>> Xem thêm:  Luật tố tụng dân sự là gì ? Tìm hiểu về luật tố tụng dân sự

3. Thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra

Theo quy định tại điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 thì:

- Điều tra viên, cán bộ điều tra phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

- Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm"sảt viên, kiểm tra viên, thẩm phán, hội thẩm, thẩm tra viên hoặc thư kí toà án: Khi đã tiến hành giải quyết vụ án đó với tư cách khác họ đã có những ý kiến đánh giá, những quan điểm, những kết luận cá nhân... thể hiện sự nhận thức và thái độ của mình đối với vụ án, họ không thể đảm bảo sự vô tư khi tiến hành điều tra vụ án. Vì vậy, trong trường hợp này, điều tra viên phải từ chối hoặc bị thay đổi.

Việc thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra do thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định.

Điều tra viên bị thay đổi là thủ trưởng cơ quan điều tra thuộc một trong các trường họp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra vụ án do cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.

4. Thay đổi kiểm sát viên

>> Xem thêm:  Thẩm quyền thủ trưởng, phó thủ trưởng, điều tra viên, cán bộ điều tra khi tiến hành tố tụng ?

Theo quy định tại (Điều 52 BLTTHS) Kiểm sát viên, kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đôi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

- Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là điều tra viên, cán bộ điều tra, thẩm phán, hội thẩm, thẩm tra viên hoặc thư kí toà án.

Việc thay đổi kiểm sát viên trước khi mở phiên toà do viện trưởng hoặc phó viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Kiểm sát viên bị thay đổi là viện trưởng viện kiểm sát thì do viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Trường hợp phải thay đổi kiểm sát viên tại phiên toà thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà.

5. Thay đổi thẩm phán, hội thẩm

Theo quy định tại (Điều 53 BLTTHS) Thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

>> Xem thêm:  Quy định về "Đình chỉ" trong bộ luật tố tụng dân sự

- Họ cùng trong một hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau: Việc thẩm phán và hội thẩm cùng trong một hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau không đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập, không đảm bảo sự độc lập giữa các thành viên của hội đồng xét xử, họ có thể bị ảnh hưởng chi phối lẫn nhau trong việc nhận thức và giải quyết vụ án. Chỉ một trong hai người phải thay đổi và việc thay đôi ai trong hai người trước khi mở phiên toà do chánh án toà án quyết định, tại phiên toà do hội đồng xét xử quyết định. Việc xác định họ là người thân thích được xác định theo hướng dẫn chung.

- Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên, thư kí toà án: về trường hợp này trước đây có hướng dẫn: Nếu thẩm phán, hội thẩm được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nhưng chỉ tham gia ra các quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án; huỷ quyết định đình chỉ vụ án, hoãn phiên toà thì vẫn được tiếp tục giải quyết vụ án (xem tại:Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 03/2004/NQ- HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS năm 2003).

Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm trước khi mở phiên toà do chánh án hoặc phó chánh án toà án được phân công giải quyết vụ án quyết định. Thẩm phán bị thay đổi là chánh án toà án thì do chánh án toà án trên một cấp quyết định.

Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm tại phiên toà do hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, hội đồng quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi thẩm phán, hội thẩm tại phiên toà thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà.

7. Thay đổi thư kí toà án

Theo quy định tại Điều 54 BLTTHS, Thư kí toà án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

- Đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, kiểm tra viên, điều tra viên, cán bộ điều tra, thẩm phán, hội thẩm, thẩm tra viên, thư kí toà án.

>> Xem thêm:  Luật sư và cơ quan tố tụng: Hợp tác chứ không “đối đầu”

- Việc thay đổi thư kí toà án trước khi mở phiên toà do chánh án hoặc phó chánh án toà án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Việc thay đổi thư kí toà án tại phiên toà do hội đồng xét xử quyết định.

Trường hợp phải thay đổi thư kí toà án tại phiên toà thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên toà.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khởi kiện đòi tài sản khi bên vay có hành vi tẩu tán tài sản ?