1. Viết tay đơn xin ly hôn trên giấy A4 được không ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Đơn xin ly hôn có thể viết tay trên giấy A4 được không? nếu ở Bình Thạnh thì viết đơn xin ly hôn bằng giấy viết tay được không và viết như thế nào ạ?
Nộp đơn tại Tòa án nào và bao lâu thì được giải quyết? Tôi có một bé gái 15 tháng tuổi, tôi chưa đi làm. Theo luật thì tôi có được nuôi bé không?
Tôi xin cám ơn!
Người gửi: Ngadang

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Luật sư: Lê MInh Trường - Hướng dẫn quyền nuôi con sau ly hôn trên VTV3

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Hiện nay, thì pháp luật không có quy định là đơn xin ly hôn phải viết dưới hình thức nào, việc này tùy thuộc vào từng tòa án, có tòa sẽ có mẫu đơn riêng, có tòa thì không yêu cầu mẫu đơn có nghĩa là có thể viết tay chỉ cần đầy đủ các thông tin cần thiết là được. Vấn đề này bạn có thể đến tòa án nơi bạn nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn để hỏi thêm thông tin, nếu tòa án yêu cầu mẫu đơn riêng thì bạn tiến hành mua đơn tại tòa án theo quy định.

Theo quy định tại điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn nộp đơn xin ly hôn tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú nếu bạn đơn phương ly hôn và tại nơi chồng bạn cư trú hoặc nơi bạn cư trú nếu vợ chồng bạn thuận tình ly hôn.

Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Như vậy, sau 5 ngày kể từ ngày nộp đơn bạn sẽ được thông báo là đơn của bạn có được chấp thuận hay không hay thiếu những giấy tờ gì, phải bổ sung những gì. Thời gian tối đa để giải quyết vụ án ly hôn hiện nay theo quy định là 4 tháng, trong trường hợp có tình tiết phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 6 tháng.

Khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định

"Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, con bạn mới 15 tháng tuổi mặc dù bạn chưa đi làm nhưng vẫn được ưu tiên nuôi con và chồng bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng để bạn nuôi con.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Ly hôn khi chồng không cung cấp địa chỉ ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện chồng em đang sống và làm việc tại Malaysia đi theo diện xuất khẩu lao động từ năm 2010 đến nay không gửi tiền nong gì về, theo một số nguồn tin ở bên đó chồng em sống cùng 1 người phụ nữ khác. Khi em đề nghị ly hôn thì chồng không cung cấp địa chỉ nơi ở, em muốn ly hôn để ổn định cuộc sống vậy em phải làm thế nào mong luật sư chỉ giúp ?
Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Hồ sơ, thủ tục ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn.

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên của vợ và chồng.

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giầy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con (nếu có).

2. Theo quy định tại các điều 28, 37, 39 và điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thì thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp một bên đương sự đang ở nước ngoài và một bên ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú.

Do đó, để có thể ly hôn, bạn phải nộp hồ sơ ly hôn cùng tài liệu kèm theo đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chồng bạn cư trú ở Việt Nam trước khi đi xuất khầu lao động. Nếu trong trường hợp bạn không có địa chỉ của chồng bạn cố tình giấu địa chỉ thì:

+ Nếu có thể liên lạc được với bị đơn ở nước ngoài thông qua thân nhân của họ thì tòa án thông qua thân nhân đó gửi cho bị đơn ở nước ngoài lời khai của nguyên đơn, và yêu cầu họ phúc đáp về tòa án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết ly hôn. Căn cứ vào lời khai và tài liệu nhận được, tòa xét xử theo thủ tục chung.

+ Nếu thực sự không liên hệ được với bị đơn ở nước ngoài thì tòa ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu TAND cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết. Đây là cơ sở để chấm dứt hôn nhân.

+ Nếu có căn cứ cho thấy thân nhân của bị đơn biết nhưng không cung cấp địa chỉ, tin tức bị đơn cho tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của tòa (ở phần thứ nhất) thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Đã yêu cầu đến lần thứ 2 mà thân nhân của họ vẫn không chịu hợp tác thì tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, tòa án gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định, đồng thời niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn khi vợ đang ở nước ngoài lao động?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Có được chia nhà không đứng tên sổ đỏ sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng tôi kết hôn với nhau từ năm 2000, đến năm 2010 hai vợ chồng mới dành dụm đủ tiền để mua 1 cái nhà 54m2. Cách đây hơn 1 năm tôi phát hiện anh ta có bồ, mặc dù đã tha thứ, nhưng anh ta chứng nào tật nấy vẫn tiếp tục ăn nằm với người khác. Tôi không chịu được nữa nên đã đệ đơn ly hôn. Bây giờ tôi đang băn khoăn về chuyện căn nhà, do lúc mua nhà xong thì tôi lại để anh ta đứng tên căn nhà đó.
Xin hỏi công ty luật minh khuê, có phải nhà đứng tên ai thì sau khi ly hôn thì nhà thuộc về người đó không? Tôi cũng đã bỏ rất nhiều mồ hôi, công sức mới có đủ tiền để mua nhà, tôi không muốn căn nhà thuộc hết về anh ta ?
Cảm ơn!

Có được chia nhà không đứng tên sổ đỏ sau khi ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Tài sản chung của vợ, chồng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nhà ở và các loại bất động sản khác là loại tài sản bắt buộc phải đăng kí quyền sở hữu. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định với trường hợp nhà là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp nhà là tài sản chung vợ, chồng nhưng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ đứng tên một trong hai người.

Có thể nói việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà là căn cứ để xác định quyền định đoạt, quyền sử dụng đối với tài sản. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ để xác định tài sản này không phải là tài sản chung của vợ chồng. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ, chồng như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, căn cứ theo quy định này, trường hợp nhà ở chỉ đứng tên của vợ hoặc chồng vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi có một trong những căn cứ sau đây:

– Nhà ở là kết quả do vợ, chồng cùng tạo lập được;

– Nhà ở là tài sản được tặng cho, thừa kế chung;

– Nhà ở là tài sản riêng của vợ chồng nhưng đã thỏa thuận là tài sản chung.

Theo như bạn trình bày thì căn nhà đó là do bạn và chồng bạn cùng nhau lao động, kiếm tiền để mua. Như vậy, căn cứ theo Điều 33 ở trên thì căn nhà đó sẽ thuộc về tài sản chung của vợ, chồng bạn. Theo đó, khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Chia tài sản của vợ, chồng sau khi ly hôn

Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể.

Về nguyên tắc, trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP tài sản chung của vợ chồng khi chia đôi sẽ tính đến các yếu tố sau:

- “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

- “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

- “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

- “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Do đó, đối với tài sản là nhà ở chỉ đứng tên của vợ hoặc chồng nhưng được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khi ly hôn cũng sẽ được chia theo các yếu tố này. Trong trường hợp có tranh chấp giữa vợ và chồng về việc nhà ở đứng tên của một bên là tài sản riêng thì người cho rằng tài sản này là tài sản riêng có nghĩa vụ phải chứng minh. Quy định này tạo điều kiện cho người vợ hoặc người chồng không đứng tên trên sổ đỏ nhà khi ly hôn có thể bảo vệ được quyền của mình một cách tối đa nhất.

Do đó, bạn không cần phải lo lắng về việc căn nhà chỉ đứng tên của chồng bạn thì sau khi ly hôn Tòa sẽ giao nhà cho anh ấy mà bạn không được hưởng quyền lợi gì từ căn nhà. Trước hết hai bạn nên thỏa thuận với nhau về việc định đoạt căn nhà để đỡ phức tạp hơn khi chia tài sản, nếu các bạn không thỏa thuận được với nhau thì Tòa sẽ chia theo luật định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn ly hôn khi chồng giữ tất cả giấy tờ liên quan ?

Chào luật sư! Em năm nay 23 tuổi, em và chồng chung sống gần một năm và vừa đăng ký kết hôn được vài tháng, chúng em đã có con chung cháu được 5 tháng tuổi, chồng em nhiều lần bạo hành em, nay em xin đơn phương ly hôn nhưng chồng em giữ tất cả các giấy tờ liên quan, giấy đăng ký kết hôn bản chính, bản sao, giấy khai sinh con bản chính, bản sao....
Em muốn làm thủ tục ly hôn nhưng không có các loại giấy tờ trên có được không ạ?
Em cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Như vậy bạn hoàn toàn có quyền ly hôn đơn phương mà không cần có sự đồng ý của chồng bạn.

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Chứng minh nhân dân bản sao có chứng thực.

- Sổ hộ khẩu của vợ và chồng bản sao có chứng thực.

- Đăng ký kết hôn bản chính

- Giấy khai sinh của các con bản sao có chứng thực.

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp).

Theo quy định tại các điều 33, 34, 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn tới Tòa án nhân dân nơi chồng bạn cư trú.

Tuy nhiên trường hợp nếu chồng bạn giữ tất cả giấy tờ thì cũng không ảnh hưởng đến thủ tục xin ly hôn của bạn, bạn có thể làm như sau:

+) Về hộ khẩu: liên hệ với cơ quan công an cấp phường, xã nơi bạn thường trú nhờ xác nhận rằng bạn nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này bạn có thể làm 1 đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

+) Về hôn thú (giấy đăng ký kết hôn bản chính): liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký trước đây đẻ xin bản sao.

+) Về khai sinh: liên hệ với cơ quan hộ tịch trước đây nơi bạn đã đăng ký khai sinh cho con để xin cấp bản sao.

Trường hợp nếu nộp đơn cho tòa án nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của tòa mà bạn không thể bổ sung được thì trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa sẽ yêu cầu chồng bạn là người bổ sung.

>> Đối với trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Ly hôn không có đủ giấy tờ phải làm sao ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn về thủ tục giải quyết việc ly hôn ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Ngày 30/ 3/ 2015, tôi nộp đơn ly hôn đơn phương lên tòa án huyện. Sau đó ngày 21/ 4/2015 tôi có giấy gọi của tòa án. Nhưng chồng tôi vẫn muốn chung sống nên chúng tôi đã viết bản tự khai tại tòa. Ngày 27/ 5/ 2015 tòa lại gọi, lần này chồng tôi đã thuận tình ly hôn nên chúng tôi đã viết lại bản tự khai.

Vợ chồng tôi không có con chung, không có tài sản chung nên không có bất cứ tranh chấp gì. Nhưng từ ngày 27/ 5 đến nay tôi không thấy tòa án gọi lên làm việc. Vậy tôi xin hỏi trong trường hợp của tôi, thì sau bao nhiêu ngày kể từ lần gọi trước của tòa, thì tôi mới được gọi để giải quyết tiếp? Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong nhận được sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh khuê.

Kính thư!

Người gửi: Đ.T.

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Về thời gian giải quyết yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn của hai bạn.

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Bạn có thể đối chiếu vào trường hợp của chính bạn để thấy rõ hơn. Việc bạn nộp hồ sơ đã đúng thẩm quyền của Tòa án hay chưa? Hồ sơ bạn nộp đã đầy đủ giấy tờ hay chưa?

Khi Tòa án đã thụ lý đơn kiện mà quá trình giải quyết tỏ ra kéo dài, chậm chạm một cách bất thường thì đó là lúc đó bạn có thể làm đơn khiếu nại để “thúc đẩy” và cũng là góp phần bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?