- 1. Phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?
- 2. Chồng đi làm ra tiền thì có được xem là tài sản chung không ?
- 3. Định đoạt tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ?
- 4. Vấn đề bồi thường tuổi thanh xuân và chia tài sản chung vợ chồng ?
- 5. Đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay riêng ?
1. Phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900 6162
Luật sư tư vấn:
Căn cứ Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân (được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân), hai vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Việc phân chia tài sản chung khi ly hôn như thế nào Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng trước, nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó (Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Do vậy, hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung trước, nếu không thỏa thuận được thì có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết.
Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Nếu vợ chồng bạn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, về nguyên tắc tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định phần, tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì “công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
Như vậy, trường hợp của vợ chồng bạn; bạn là người vợ, người mẹ thực hiện công việc nội trợ, trông nom con cái, chăm sóc gia đình, lo công việc nội trợ. Bạn không đi làm và không có thu nhập hàng tháng thì vẫn được tính là có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng mình và vẫn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Không phải là không đi làm, không trực tiếp tạo lập tài sản trong gia đình thì sẽ không được phân chia tài sản. Việc Tòa án phân chi tài sản với tỷ lệ cụ thể như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp trong khối tài sản chung và lỗi của các bên vi phạm nghĩa vụ vợ chồng dẫn đến hôn nhân lâm vào trình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Bên có lỗi dẫn đến hôn nhân đổ vỡ có thể phải chịu thiệt hơn khi Tòa án phân chia tài sản.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.
2. Chồng đi làm ra tiền thì có được xem là tài sản chung không ?
Luật sư trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:
Về vấn đề tài sản chung, được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Như vậy, sau khi bạn kết hôn với chồng thì số tiền mà người chồng tạo ra từ thu nhập là tài sản chung của cả hai vợ chồng theo luật đã quy định.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
3. Định đoạt tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:
"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Như vậy, trong trường hợp của bạn, quyền sử dụng mảnh đất và ngôi nhà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, và việc mua đất, xây nhà là có sự đóng góp của cả hai bên, như vậy, quyền sử dụng đất và ngôi nhà lúc này được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, khi ly hôn, tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nguyên tắc chia tài sản chung như sau:
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Như vậy, nếu bạn và vợ mình có thể thỏa thuận với nhau về việc cho thuê căn nhà trên sau khi ly hôn và hàng tháng chia đều tiền doanh thu thì sẽ được thực hiện theo thỏa thuận. Còn nếu không thể thỏa thuận, thì quyền sử dụng mảnh đất và ngôi nhà sẽ được chia theo nguyên tắc trên. Nếu vợ bạn tiếp tục sử dụng ngôi nhà thì bạn có thể yêu cầu vợ mình thanh toán nửa giá trị căn nhà và mảnh đất bằng tiền mặt
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
4. Vấn đề bồi thường tuổi thanh xuân và chia tài sản chung vợ chồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Căn cứ quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:
" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Tài sản chung của vợ chồng bạn là vàng của hồi môn, 5 triệu, 30 triệu tiền cưới và cái ao mua chung.Về nguyên tắc tài sản này được chia đôi khi vợ chồng không thỏa thuận được.
" Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."
Nếu chồng bạn có căn cứ chứng minh được tài sản của chồng bạn hình thành trước kết hôn thì đây là tài sản riêng của chồng bạn, không được phân chia.
Vấn đề quy định về bồi thường tuổi thanh xuân được nhiều nhà phê bình đánh giá đề cập đến nhưng hiện nay luật hôn nhân và gia đình không đề cập đến nội dung này là bắt buộc chồng bạn phải bồi thường. Do đó không thỏa thuận được thì bạn chưa được nhận khoản này.
>> Bài viết tham khảo thêm: Quy định của pháp luật về bồi thường tuổi thanh xuân ?
5. Đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay riêng ?
Vậy tôi muốn hỏi luật sư:
1. Nhà bố mẹ tôi đang ở, bố mẹ tôi nói sau này cho em trai tôi, còn tôi chỉ có đất phải tự xây nhà, bố mẹ tôi chỉ cho gạch thôi. Vậy em tôi có phải phụ tiền cho tôi xây nhà không?
2. Bố mẹ tôi cho đất riêng tôi trong khi tôi đã có vợ thì vợ tôi có được hưởng đất chung không? Và vợ chồng tôi xây nhà trên mảnh đất đó thì phải chia như thế nào?
Ngươi gửi: N.P.

Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình. Gọi: 1900.6162
Trả lời:
Kính chào Bạn, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.
1. Nhà bố mẹ tôi đang ở, bố mẹ tôi nói sau này cho em trai tôi, còn tôi chỉ có đất phải tự xây nhà, bố mẹ tôi chỉ cho gạch thôi. Vậy em tôi có phải phụ tiền cho tôi xây nhà không ?
Việc bạn xây nhà trên đất được bố mẹ cho là việc làm cá nhân của bạn, do đó bạn phải tự mình thực hiện các công việc liên quan đến xây nhà, bạn có thể huy động nguồn lực từ những người thân của bạn, chứ những người khác không có nghĩa vụ phải cung cấp nguồn lực cho bạn. Tức là việc em trai của bạn được bố mẹ bạn cho cả nhà và đất, về phía bạn bố mẹ bạn chỉ cho bạn đất và gạch là 2 việc hoàn toàn riêng biệt. Em trai bạn không có nghĩa vụ phải phụ tiền cho bạn xây nhà chỉ vì được bố mẹ bạn xây nhà cho. Mà vấn đề phụ giúp anh xây nhà thuộc về mặt ý chí của em trai bạn.
2. Bố mẹ tôi cho đất riêng tôi trong khi tôi đã có vợ thì vợ tôi có được hưởng đất chung không? Và vợ chồng tôi xây nhà trên mảnh đất đó thì phải chia như thế nào ?
Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:
"Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng".
Trường hợp của bạn, nếu như trong hợp đồng tặng cho bất động sản của bố mẹ bạn với bạn ghi rõ là cho riêng bạn mà không phải là cho hai vợ chồng bạn thì diện tích đất này được xác định là tài sản riêng của bạn. Vợ của bạn không được hưởng chung đất.
Vợ chồng bạn xây nhà trên mảnh đất này, và căn nhà được xác định là tài sản chung của vợ chồng, bởi được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và được tạo dựng bởi công sức của cả 2 vợ chồng. Nếu như bạn ly hôn, về mặt pháp luật, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi hoặc theo sự thỏa thuận của vợ chồng, đối với căn nhà cũng vậy, về nguyên tắc sẽ được chia đôi. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, căn nhà là tài sản chung vợ chồng được xây dựng trên đất là tài sản riêng của bạn, nên vấn đề chia tài sản chung được xác định như sau: bạn được sở hữu căn nhà và phải trả lại cho người vợ số tiền ngang với giá trị phần căn nhà người vợ được chia.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê