1. Phân chia tài sản đất đai của vợ chồng khi ly hôn ?

Thưa Luật sư! Dì em lấy chồng bị chồng đánh vũ phu, nhà chồng không quan tâm hùa theo con đuổi dì đi. Hai người ly thân mấy năm thì dì làm ăn mua được miếng đất thì chồng năn nỉ xin lỗi, dì em thương tình đồng ý quay lại. Hai người xây nhà hơn 300 triệu nhà đó người chồng chỉ bỏ ra 80 triệu góp phần xây dựng lên, còn lại thì dì em bỏ tiền và đi mượn anh em bên ngoại một ít. Xây nhà xong, sống được mấy tháng, chồng lại đánh dì em, đòi chia tài sản, bắt dì em kí đơn ly hôn.
Vậy em muốn hỏi là miếng đất đó có bị chia không, miếng đất đó chưa có sổ đỏ mà khi mua dì em trực tiếp đứng tên, chỉ có giấy sang nhượng tay cho dì. Còn ngôi nhà thì sẽ phải chia làm sao ?
Cảm ơn và mong nhận được sự tư vấn của luật sư.

Luật sư tư vấn:

Theo điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 : Tài sản chung của vợ chồng

“ 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”

Theo như quy định trên thì căn hộ này là do dì bạn mua trong thời kì hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của cả hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân.

Ngoài ra căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định : Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Bên cạnh đó theo Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013, quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Tuy nhiên tại thời điểm này vợ chồng dì bạn chưa được cấp giấy chứng nhận nên căn nhà này chưa được pháp luật công nhận là tài sản chung của vợ chồng dì bạn, do đó nếu lúc này dì bạn nộp hồ sơ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn kèm theo yêu cầu phân chia tài sản chung thì tòa án không có căn cứ để thụ lý cũng như giải quyết yêu cầu phân chia căn nhà này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về phân chia tài sản chung trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

2. Cách chia tài sản nhằm đảm bảo cuộc sống sau ly hôn ?

Thưa luật sư, tôi chỉ làm nội trợ và có mức thu nhập không cao bằng chồng tôi là một người kinh doanh. Vậy, xin hỏi khi ly hôn pháp luật quy định như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích của tôi để tôi có thể nuôi con ?
Xin cảm ơn Luật Minh Khuê!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo quy định trên, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp này: miếng đất mới mua 50m2 ở thành phố để dự định xây nhà và khu đất ở hiện tại mà bạn đang bán hàng tạp hóa, 02 chiếc xe máy của hai vợ chồng được xác định là tài sản chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tối sau:

"Mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

– "Vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Như vậy, trong trường hợp này, chồng bạn làm lái xe còn bạn bán hàng tạp hóa ở nhà, do đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng thì Tòa án sẽ giải quyết phải đảm bảo hoạt động nghề nghiệp của hai bên. Ngoài ra, việc tạo lập tài sản chung mà do chồng bạn đóng góp nhiều hơn sẽ được Tòa xem xét và bên nào đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn. Chính vì vậy, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho bạn và giao tài sản khác cho chồng nhằm đảm bảo sự công bằng và hoạt động kinh doanh của hai bên sau ly hôn.

>> Xem thêm:  Di chúc là gì ? Quy định về phân chia di sản thừa kế theo di chúc ? Chia thừa kế theo di chúc ?

3. Tài sản được thừa kế có phải chia khi ly hôn ?

Chào anh/ chị luật sư, tôi được thừa kế di sản 1 căn nhà trị giá khoảng 800 triệu (có đầy đủ giấy tờ chứng minh việc thừa kế). Sau đó tôi bán nhà để giải quyết việc riêng và mua nhà mới. Căn nhà mới chỉ có một mình tôi đứng tên nhưng không có xác nhận tài sản riêng giữa tôi và chồng tôi. Trong thời gian đó, tôi cầm cố sổ đỏ cho ngân hàng với số tiền là 45 triệu.

Hiện tôi và chồng đang trong thời gian xét xử li hôn. Chồng tôi yêu cầu được chia tài sản. Đồng thời ngân hàng cũng ra quyết định lấy lại số tiền đã cho vay trong vòng 1 tháng vì việc tranh chấp nhà đất, nếu tôi không giải quyết đủ thì ngân hàng sẽ đâm đơn kiện và phát mãi nhà, trong khi nhà tôi vào mức khoảng 400 triệu. Quý luật sư làm ơn giải đáp giùm tôi: chồng tôi có khả năng được chia tài sản hay không? Tôi có thể xin ngân hàng gia hạn thêm thời gian hay không? Bởi vì hoàn cảnh của tôi rất khó khăn nên không thể có 45 triệu trong 1 tháng.

Tôi xin cảm ơn anh/ chị luật sư rất nhiều.

Phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, Theo quy định tại điều 43 và Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 :

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Tại Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung:

"1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Theo quy định trên, đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà trên giấy chứng nhận quyền tài sản chỉ ghi tên một người thì tài sản vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng và cả hai vợ chồng đều có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản đó (trừ trường hợp người vợ/người chồng chứng minh được đó là tài sản riêng của mình).

Căn cứ các quy định pháp luật trên có thể thấy khi chồng bạn mua nhà thì giữa bạn và chồng bạn vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng, được pháp luật công nhận. Mặc dù, căn nhà là do bạn dùng tiền thừa kế để mua và đứng tên bạn nhưng theo quy định của pháp luật đó là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn. Khi ly hôn, nếu bạn không đưa ra được căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng như tài sản được cho riêng, thừa kế riêng, có nguồn gốc từ tài sản riêng…thì đó là tài sản chung của hai vợ chồng (cho dù chỉ có mình bạn đứng tên) và sẽ được phân chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này."

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Thứ hai, căn cứ theo quy định tại Điều 60 về Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác."

Về khoản nợ với ngân hàng mà bạn vay, bởi đây là giao dịch được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn và việc sử dụng khoản vay nợ này vào mục đích chung cho gia đình bạn, do đó, vợ chồng bạn cùng có nghĩa vụ trả nợ bạn trong trường hợp này.

Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản quy định:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.."

Cùng với đó, nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy trong trường hợp của bạn, khi đến hạn trả tiền vay thì bạn phải trả đúng hạn. Nếu không trả đúng hạn thì bạn phải thỏa thuận với bên cho vay xin gia hạn thêm. Nếu họ không đồng ý thì bạn bắt buộc phải trả đúng hạn như đã thỏa thuận từ trước.

>> Xem thêm:  Ủy quyền phân chia di sản thừa kế có được không ? Thủ tục khai nhận di sản thừa kế ?

4. Chia tài sản sau khi ly hôn như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi mới lập gia đình được 6 tháng ạ! Do mâu thuẫn giữa hai vợ chồng và cả mẹ chồng nữa.có những lần cãi vã chồng tôi đã thẳng tay đánh tôi. Hiện nay tôi đã bỏ về nhà mẹ đẻ.

Trước khi đi chồng tôi đã lục túi của tôi để lấy 2 chỉ vàng ngay sau đó thì mẹ chồng cũng vô đòi tôi phải đưa lại cho bà. Lúc cưới mẹ chồng tôi cho tôi 2 chỉ đó còn 2 chỉ là chị em nhà chồng và mẹ đẻ 1 chỉ tổng tất cả là 5 chỉ. Tôi đã cho mẹ chồng mượn 2 chỉ còn 1 chỉ mẹ đẻ mượn lên hiện giờ tôi còn lại 2 chỉ đó.

Vậy luật sư cho hỏi khi tôi nộp đơn ly hôn thì tôi có phải trả lại số vàng của nhà chồng cho không. Và tôi có được hưởng quyền lợi gì không? Nhà chồng đã cho vợ chồng tôi ăn riêng nhưng vẫn ở chung nhà ! Và cũng có cho một số đất đai tôi có được hưởng không?

Xin Luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn!

Người gửi: Tú

Chia tài sản sau khi ly hôn như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Trước tiên về việc bạn có phải trả lại số vàng bạn được tặng cho nhà chồng không?

Như thông tin bạn cung cấp thì nhà chồng tặng cho bạn 2 chỉ vàng và số vàng đó là tặng riêng cho bạn. Do vậy đó được coi là tài sản riêng của bạn và bạn không phải trả lại cho nhà chồng sau khi ly hôn cùng với 3 chỉ vàng còn lại. Theo điều 43 và điều 44 Luật hôn nhân gia đình 2014 :

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ."

- Thứ hai, việc bạn có được hưởng quyền lợi gì không ?

Ở đây đối với tài sản chung của vợ chồng 2 bạn khi ly hôn nếu giữa hai vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản thì tài sản chung giữa 2 người sẽ được chia theo pháp luật, cụ thể theo quy định tại điều 33 và điều 35 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình."

Như vậy khi ly hôn bạn sẽ được hưởng một nửa tài sản trong tổng số tài sản chung của vợ chồng 2 bạn. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo theo những yếu tố quy định tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Ngoài ra ở đây bạn có đề cập đến việc sống chung với bố mẹ chồng. Vì thế cũng cần xét đến việc tài sản của vợ chồng 2 bạn có nằm trong khối tài sản chung của cả gia đình hay không? Theo quy định tại điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

- Thứ 3, về số đất đai mà vợ chồng bạn được hưởng từ phần đất mà bố chồng bạn tặng cho 2 bạn.

Trước tiên phải xét đến việc bố mẹ chồng đã sang tên phần diện tích đất tặng cho đó cho vợ chồng bạn chưa?

Nếu việc sang tên đất đã được thực hiện hoặc bạn có thể chứng minh được đất đó là tài sản 2 bạn được bố mẹ chồng tặng cho trong thời kì hôn nhân thì nó được coi là tài sản nằm trong khối tài sản chung của 2 bạn. Và sẽ được chia theo quy định tại điều 62 luật hôn nhân gia đình

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

>> Xem thêm:  Tư vấn lấy lại đất thừa kế có tranh chấp ? Nên tặng cho quyền sử dụng đất hay để lại thừa kế ?

5. Thủ tục giải quyết tranh chấp căn hộ sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Hiện tại tôi đang có vấn đề về giải quyết mua chung cư. Mong Quý công ty tư vấn giúp: Qua thông tin trên mạng và của người quen ở chung cư Bàu Cát, Vợ chồng tôi có liên hệ với anh Tr và được biết nhà chung cư này đang bị thiếu tiền của chủ đầu tư khoảng 270 triệu đồng và không tranh chấp.

Bên anh Tr yêu cầu vợ chồng tôi cùng đến Công ty địa ốc TB và đóng tiền và nhận giấy hẹn chờ ngày 10 ngày ra sổ hồng công chứng giao nhà cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ thanh toán số tiền còn lại là 350 triệu đồng sau khi công chứng ra tên cho bên mua. ( Vì chưa có sổ hồng nên không làm thủ tục mua bán có công chứng). Tuy nhiên vợ chồng này lấy nhau năm 2007, hợp đồng mua bán căn nhà năm 2008 và tháng 3/2012 hai người ly hôn mà chưa ra sổ hồng.

Tờ giấy ly hôn thông tin ghi: Bên chồng hỗ trợ vợ là 150 triệu và chi phí nuôi con 1 tháng 1.5 triệu. Tính thời điểm ly hôn đến hiện nay theo bà vợ là tiền lãi 1 %/ tháng tính từ ngày có quyết định ly hôn T3/2012. Cộng với số tiền trợ cấp nuôi con từ T4/2011 đến nay mỗi tháng 1.5 triệu. Như vậy tông cộng khoảng 190 triệu 500 ngàn. Tài sản chung tự thỏa thuận.

Vì vậy bà vợ đã yêu cầu bên chủ đầu tư không cho làm sổ hồng tên riêng của ông Trí. Vợ chồng tôi không hay biết căn hộ này có tranh chấp và chúng tôi cũng liên hệ với bà vợ để thương lượng. Nhưng bà vợ đã yêu cầu chúng tôi đưa số tiền: 190 triêu 500 ngàn và sẽ ra công chứng ủy quyền tài sản phần bà cho vợ chồng chúng tôi.

Chúng tôi yêu cầu hai người cùng hợp tác và ra làm sổ hồng đứng tên 2 người sau đó sẽ ra mua bán công chứng cho chúng tôi và chúng tôi sẽ trả tiền theo như thỏa thuận của 3 (bên bà vợ bên chồng và chúng tôi) nhưng bà vợ vẫn có thái độ không đồng ý. Còn dọa chúng tôi có thể sẽ không bán nhà cho chúng tôi.

Hiện tại anh Tr vẫn không liên hệ gì với bà vợ chỉ cung cấp cho chúng tôi địa chỉ nhà. Chúng tôi đã tìm đến nhà gặp bà vợ thì bên bà vợ nhiều lúc cũng muốn bán nhiều lúc cũng muốn không bán, làm chúng tôi thấy rất lo. Và chúng tôi cũng đến công ty địa ốc xin gặp bà Phó Tổng giám đốc có trình bày hoàn cảnh như vậy và mong muốn nhận lại số tiền mà mình đã nộp thay cho anh Tr và đưa số nợ về lúc ban đầu xem như chúng tôi chưa đóng tiền nhưng bên đó trả lời là không được.

Bên đó nới chúng tôi là anh Tr cũng dẫn nhiều khách tới mua nhưng họ từ chối mua.

Chúng tôi chỉ nghĩ đơn giản làm theo như lời ông Trí nhưng lại xảy ra tranh chấp. Họ khuyên nên nói chuyện bà vợ thương lượng hoặc có thể tìm luật sư để giúp đỡ.

Bên anh Tri nợ chủ đầu tư 145.280.000 tr tính từ 21/10/2010. Công tiền lãi căn hộ: 60.004.244 đ. Lãi phạt đóng chậm 63.930.022 đ. Như vậy hơn 2 năm tiền lãi kép là khoảng 130 triệu.

Tính theo chủ đầu tư nếu anh Tr không đóng khoản tiền này thì 2-3 năm sau sẽ mất căn hộ. Hiện tại thì căn hộ anh Tr cho thuê khoảng 3 triệu/ tháng. Dự định thứ 4 này sẽ giao nhà cho chúng tôi.

Anh Tr lúc đầu kiên quyết không đồng ý cho bà vợ đứng tên nhưng với giấy ly hôn đã có nên anh Tr chấp nhận cho bà vợ đứng tên. Bên anh Tr và bà vợ cũng không còn nhìn mặt nhau và không liên hệ với nhau, chúng tôi vừa đứng ra giúp họ nhưng họ lại tỏ thái độ không hợp tác và cũng muốn chuyện đi tới đâu thì đến không phải sợ chủ đầu tư thu hồi. Bên bà vợ, bên anh Tr nhiều lúc cũng muốn chủ đầu tư thu hồi luôn cũng được nhưng vẫn yêu cầu bên chúng tôi giao tiền mới đồng ý ủy quyền sở hữu phần của bà này.

Kính mong luật sư tư vấn hướng dẫn giúp.

Người gửi: Nguyễn Hoàng

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết."

Như vậy, việc phân chia tài sản sau khi ly hôn theo quyết định của tòa là do 2 vợ chồng tự thỏa thuận. Bạn cần được sự đồng ý của hai vợ chồng thì thủ tục mua bán căn hộ mới có giá trị pháp lý. Vì vậy, trước hết bạn cần thực hiện thỏa thuận với hai vợ chồng để nhận được sự giúp đỡ của họ. Việc bạn mua nhà trong khi việc chia tài sản chung của chủ sở hữu chưa được hoàn thành là điều bất lợi cho bạn. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của mình bạn cần thực hiện việc xác lập các giao dịch liên quan tới việc mua bán bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Trong văn bản nên nêu rõ điều kiện kèm theo. Khi đã có văn bản chứng minh giao dịch có điều kiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bạn hoàn toàn yêu cầu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Bạn có thể đến trực tiếp công ty chúng tôi để nhận được sự tư vấn cụ thể từ phía luật sư cũng như hỗ trợ về dịch vụ soạn thảo giấy tờ, hợp đồng mua bán...

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người thừa kế là gì ? Chia thừa kế thế nào cho đúng luật ?