1. Vụ Fraport kiện Philíppin

Ngày 12/7/1997, một hợp đồng nhượng quyền về thi công, vận hành nhà ga hành khách quốc tế tại sân bay quốc tế Ninoy Aquino ở Manila, Philíppin (Nhà ga số 3) đã được ký kết giữa Công ty nhà ga hàng không quốc tế Philíppin (PIATCO) và Bộ Giao thông và Vận tải Philíppin (The Philippine Department of Transportation and Communication - DOTC). Frankfurt Airport Services Worldwide (Fraport) là cổ đông của PIATCO vào tháng 7/1999. Sau nhiều lần tăng vốn góp bằng nhiều cách, Fraport đã chiếm 61.44% cổ phần của PIATCO. Đặc biệt, Fraport cũng tham gia vào các thỏa thuận cổ đông bí mật để lách luật liên quan đến việc giới hạn quyền sỗ hữu của nước ngoài trong một doanh nghiệp tiện ích công cộng là 40% để thực hiện quyền kiểm soát quản lý với số vốn cao hơn đối với PIATCO. Năm 2002, tòa án tối cao Philíppin đã tuyên thỏa thuận nhượng quyền đối với Nhà ga số 3 là vô hiệu vì vi phạm nghiêm trọng pháp luật và chính sách công của Philíppin (trong đó có việc tham nhũng ỏ thòi kỳ Chính phủ tiền nhiệm). Tại thời điểm ra quyết định này, Nhà ga số 3 đã được xây dựng xong. Sau khi thương lượng về việc bồi thường thất bại, vào ngày 17/9/2003, Fraport đệ trình khiếu kiện Chính phủ Philíppin đến Trọng tài ICSID với cáo buộc rằng Chính phủ Philíppin đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Hiệp định đầu tư giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Philíppin ký năm 1997.

Liên quan đến vụ việc, Hội đồng trọng tài thứ nhất quyết định không thụ lý đơn kiện trên cơ sở thẩm quyền vì nhận thấy, khoản đầu tư này không được thực hiện đúng pháp luật như yêu cầu của Hiệp định đầu tư song phương giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Philíppin, do Fraport đã cố tình lách “Luật Chông gian lận” (Anti-Dummy Law), còn có tên khác là “Commonwealth Act No. 108” (Đạo luật thịnh vượng chung 108) thông qua các thỏa thuận cổ đông bí mật để tiến hành các khoản đầu tư của mình. Do đó, các khoản đầu tư của Fraport không được bảo vệ theo Hiệp định đầu tư song phương giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Philíppin.

Sau đó Fraport đề nghị hủy bỏ phán quyết trọng tài nêu trên. Vào năm 2010, ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài thứ nhất đã quyết định hủy bỏ phán quyết trên cơ sở đã có sự sai lệch nghiêm trọng trong áp dụng quy tắc cơ bản về tố tụng (quyền được lắng nghe), ủy ban nhận thấy, Hội đồng trọng tài thứ nhất đã đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ được đệ trình sau khi phiên xử kết thúc và không cho hai bên tranh chấp (đặc biệt là nhà đầu tư) thực hiện quyền được đệ trình về chứng cứ.

Cũng vào năm 2010, Fraport mở đầu một quy trình trọng tài ICSID mới và đến năm 2014, Hội đồng trọng tài thứ hai cũng cho rằng, khoản đầu tư của Fraport không được Hiệp định đầu tư giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Philíppin bảo vệ do đây là khoản đầu tư phạm pháp (vi phạm Luật Chống gian lận). Vì vậy, Hội đồng trọng tài thứ hai tuyên bố mình không có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

Vụ Fraport là vụ việc gây tranh cãi bởi quy trình hủy bỏ phán quyết trọng tài của ICSID được thực hiện khi quyết định không thụ lý đơn kiện đã được đưa ra bởi cả Hội đồng trọng tài thứ nhất và Hội đồng trọng tài thứ hai trên cơ sở thẩm quyền. Điều này có nghĩa là Philíppin bị buộc phải tự bào chữa hai lần cho cùng một vụ tranh chấp, trong bối cảnh khoản đầu tư đã bị phát hiện là phạm pháp. Vụ tranh chấp này dẫn đến những quan ngại rằng, ủy ban hủy bỏ phán quyết trọng tài đã đưa ra những “tư vấn không cần thiết” và chỉ trích phán quyết của Hội đồng trọng tài thứ nhất (bao gồm cả cách diễn giải nội dung của BIT không nhất quán với cách diễn giải các quy tắc của hiệp định theo thông lệ chung). Nhà nước Philíppin rất không hài lòng với quyết định hủy bỏ phán quyết trong vụ Fraport và đã gửi văn bản bày tỏ quan ngại là việc các ủy ban của ICSID vượt quá thẩm quyền được quy định theo Công ước ICSID là vấn đề mang tính hệ thống. Philíppin thúc giục ICSID cân nhắc để có chỉ dẫn cho các ủy ban nhằm bảo đảm quy trình trọng tài công bằng và hiệu quả.

 

2. Vụ SGS kiện Philíppin

Năm 2002, công ty Thụy Sỹ, SGS Société Générale de Surveillance S.A. (SGS), khởi kiện Chính phủ Philíppin trên cơ sở Điều VIII BIT Philíppin - Thụy Sỹ năm 1997. Năm 1991, SGS và Chính phủ Philíppin ký Hợp đồng cung cấp dịch vụ giám sát nhập khẩu toàn diện. Sau một thời gian thực hiện, SGS đã phải ngừng cung cấp dịch vụ không theo hợp đồng mà nguyên nhân chủ yếu do sự thay đổi trong các thỏa thuận thuế quan của Philíppin. SGS đã nỗ lực giải quyết tranh chấp với Philíppin một cách hòa bình và yêu cầu Chính phủ Philíppin bồi thường khoản tiền chưa được thanh toán theo hợp đồng là 140 triệu USD cùng lãi suất, nhưng Chính phủ Philíppin từ chối. Do đó, SGS khiếu kiện Nhà nước Philíppin ra trọng tài ICSID vì vi phạm BIT Philíppin - Thụy Sỹ, các Điều IV (nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng, nghĩa vụ bảo vệ đầy đủ, nghĩa vụ đối xử quốc gia, MFN), Điều VI. 1 (nghĩa vụ bồi thường do tưốc đoạt quyền sở hữu) và Điều X.2 (nghĩa vụ đốì với một số khoản đầu tư đặc biệt). Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài kết luận là có thẩm quyền xét xử vụ việc song không thể thụ lý vì điều khoản giải quyết tranh chấp trong BIT không có tác dụng làm mất hiệu lực điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng CISS. Cuôì cùng, các bên đạt được thỏa thuận giải quyết vụ việc vào ngày 11/4/2008, thỏa thuận này có giá trị ràng buộc giữa các bên theo Điều 43.2 Công ước ICSID.

 

3. Kết luận vụ việc SGS kiện Philíppin

Như vậy, tóm lại, hệ thông BIT của Philíppin được nhận định là thiếu nhất quán và phần nào phản ánh chính sách bảo hộ. Điều này khiến Philíppin không chỉ phải đối mặt với nguy cơ bị nhà đầu tư nước ngoài khiếu kiện, kèm theo yêu cầu bồi thường rất cao, mà nước này còn phải chịu các thiệt hại thực chất như giảm cơ hội nhận đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin, cùng các loại tổn thất kinh tế và phát triển khác. Khi tham gia vào các vụ kiện trọng tài với vai trò là bị đơn, Nhà nước Philíppin có xu hướng bác thẩm quyền của hội đồng trọng tài bằng cách chứng minh nhà đầu tư nước ngoài đã không tuân thủ các quy định của Philíppin liên quan đến đầu tư. Việc chứng minh nhà đầu tư không tuân thủ các quy định của Philíppin sẽ đi cùng với các cáo buộc hối lộ dẫn đến tiêu tốn nhiều thời gian cho thủ tục điều tra truy tố trong nước, làm gián đoạn đáng kể quá trình hội đồng trọng tài ra phán quyết.

 

4. Cơ quan ICSID (International Centre for Settlement of Investment Disputes - ICSID)

Cơ quan ICSID - danh từ, (tiếng Anh: International Centre for Settlement of Investment Disputes), viết tắt là ICSID.

- ICSID hay còn gọi là Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, là cơ quan được thành lập bởi Ngân hàng Thế giới thành lập theo Công ước 1965 về Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia và công dân của các quốc gia khác nhau. Công ước này đã được 135 quốc gia phê chuẩn.

- ICSID có trụ sở đặt tại Washington D.C. Quá trình tố tụng không nhất thiết phải diễn ra tại trụ sở chính. (Theo The World Bank)

Hội đồng hành chính

Hội đồng Hành chính gồm đại diện do các quốc gia thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên được quyền đề cử một đại diện tham gia Hội đồng Hành chính.

Chủ tịch WB là Chủ tịch Hội đồng Hành chính nhưng không có quyền biểu quyết. Trong trường hợp Chủ tịch vắng mặt hoặc mất năng lực hành vi hoặc trong thời gian không có ai giữ vị trí Chủ tịch Ngân hàng thì người đang giữ vị trí quyền Chủ tịch Ngân hàng sẽ là Chủ tịch Hội đồng Hành chính.

Hội đồng Hành chính có thể thành lập các ủy ban nếu xét thấy cần thiết.

Ban thư kí

Ban Thư kí gồm Tổng Thư kí và một hoặc nhiều Phó Tổng Thư kí và bộ máy giúp việc.

Tổng Thư kí và Phó Tổng Thư kí do Chủ tịch Hội đồng Hành chính giới thiệu để Hội đồng Hành chính bầu với sự nhất trí của ít nhất là 2/3 tổng số thành viên Hội đồng. Nhiệm kì của Tổng Thư kí và Phó Tổng Thư kí không quá 6 năm và có thể được tái cử.

Văn phòng Tổng Thư kí và Phó Tổng Thư kí không được thực hiện bất kì một chức năng chính trị nào. Tổng Thư kí và Phó Tổng Thư kí không được phép kiêm nhiệm bất kì một công việc, chức vụ nào khác trừ trường hợp được Hội đồng Hành chính cho phép.

Các ban

Những người có đủ tiêu chuẩn và có nguyện vọng có thể được chỉ định vào Ban Hòa giải hoặc Ban Trọng tài và một người có thể tham gia cả hai Ban.

Tiêu chuẩn để được chỉ định tham gia Ban trong ICSID phải là những người có đạo đức tốt và được thừa nhận là có trình độ pháp luật, thương mại, công nghiệp hoặc tài chính và đáng tin cậy để đưa ra những phán quyết độc lập. Có trình độ pháp luật là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia Ban Trọng tài. (Theo Trang thông tin pháp luật công thương)

 

5. Tranh chấp đầu tư quốc tế

Trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, Toà án Thường trực Công lý quốc tế (tiền thân của Toà án Công lý quốc tế) đã định nghĩa tranh chấp như sau:“tranh chấp là sự bất đồng về mặt pháp lý hay trên thực tế, sự xung đột về mặt quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai hay nhiều người trở lên”.

Trong một phán quyết khác của Toà án Công lý quốc tế có nói: “Tranh chấp được hiểu là một tình huống trong đó hai bên có các quan điểm đối lập liên quan tới câu hỏi về thực hiện hoặc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong hiệp ước”.

Hay theo từ điển Luật học Black định nghĩa: “tranh chấp được hiểu là mâu thuẫn hay bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi giữa các bên; sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi của một bên bị đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia”.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các Hội đồng trọng tài của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (International Center of Settlement Investment Dispute – ICSID) đã áp dụng khái niệm tranh chấp tương tự, thường dựa vào cách định nghĩa của Toà án Thường trực Công lý quốc tế và Toà án Công lý quốc tế.

Như vậy, thuật ngữ “Đầu tư quốc tế” được định nghĩa không đồng nhất trong các Hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreements - IIAs). Tuỳ theo mục tiêu các quốc gia thành viên theo đuổi mà trong hiệp ước về đầu tư, các thành viên có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi tiếp cận về khoản đầu tư, hoặc quy định theo cách tiếp cận đóng hoặc mở.

Khái niệm “đầu tư” được định nghĩa dựa vào tài sản nhà đầu tư bỏ ra, hoặc dựa trên hiện diện thương mại mà nhà đầu tư thiết lập trên lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư. Ngoài ra, một số hiệp định có thể đưa ra một số thuộc tính của khoản đầu tư, chẳng hạn như theo đúng cam kết về vốn hoặc nguồn vốn khác, đặc điểm về mức doanh thu hay lợi nhuận kỳ vọng hoặc khả năng chấp nhận rủi ro…, thời hạn cố định… hay trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài hoặc toà án cũng có thể giải thích các đặc điểm của khoản đầu tư để xem xét đối tượng của vụ việc có phải là “khoản đầu tư được điều chỉnh” bởi hiệp định hay không.

Bên cạnh đó, trong các hợp đồng, thoả thuận đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư cũng có thể giải thích thuật ngữ “đầu tư” để áp dụng riêng cho hợp đồng, thoả thuận đó.

Theo Quy chế Phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, tranh chấp đầu tư quốc tế được hiểu “là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước dựa trên cơ sở:

a) Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), trong đó có quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam tại trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; hoặc

b) Hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam và Nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thỏa thuận này là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền”.

Quy chế này đã giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với các chủ thể trong tranh chấp, cụ thể là tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời cũng chỉ rõ cơ sở pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ của các dựa trên hai nguồn chính, đó là Hiệp định bảo hộ đầu tư và hợp đồng, thoả thuận giữa nhà đầu tư và Chính phủ.

=> Như vậy, tranh chấp đầu tư quốc tế là những mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đầu tư quốc tế, phát sinh từ các hiệp định có liên quan tới đầu tư quốc tế, hiệp định bảo hộ đầu tư hoặc hợp đồng, thoả thuận đầu tư.

Ở đây, các bên tranh chấp có thể là các quốc gia thành viên ký kết điều ước quốc tế có liên quan/quy định về đầu tư; hoặc tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng hay thoả thuận được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư; hoặc tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư theo Hiệp định ký kết giữa nước chủ nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, và các tranh chấp có liên quan tới các quan hệ đầu tư khác.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).