Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Dân sự năm 2005

Nghị quyết 03/2006/NQ_HĐTP hướng dẫn áp dụng BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

II. Nội dung tư vấn

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi xảy ra khi có đầy đủ các điều kiện sau:

- Yếu tố có thiệt hại xảy ra trên thực tế (thiệt hại về vật chất và tinh thần) là nền tảng cơ bản đồng thời là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

- Hành vi vi phạm đó là vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, khi đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật về hình sự, hành chính, kinh tế…

- Bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân:

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: 

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Xác định thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm:

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Thông thường, khi tài sản bị xâm phạm, việc xác định thiệt hại thường dễ dàng hơn bởi vì sự thiệt hại về tài sản thì luôn luôn được định giá một cách cụ thể, hơn nữa thiệt hại về tài sản phần lớn là sự mất mát, hư hỏng, hoặc tài sản bị hủy hoại nên thường có số liệu cụ thể.

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Khi xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, Tòa án phải dựa vào các chứng từ do đương sự cung cấp để quyết định mức bồi thường. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên có những khoản chi phí không thể có hóa đơn như: khoản chi phí thuê xe máy đưa người đi cấp cứu thường không có hóa đơn, chứng từ nên khi xác định Hội đồng xét xử thường chỉ dựa vào thực tế chi phí của người bị thiệt hại để xác định. 

- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng và tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.

Theo quy định của BLDS 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì khoản chi phí mai táng phí được liệt kê cụ thể và Tòa án khi xét xử có thể dựa vào đó để xác định. Tuy nhiên, nếu dựa vào các chi phí cụ thể do thân nhân bị hại đưa ra như tiền mua áo quan, hoa lễ, khăn xô, ... thì cũng cần phải thấy rằng giá cả của các loại đồ tang lễ này trên thị trường sẽ khác nhau. Do vậy, cần phải xác định cụ thể mức tổi thiểu và mức tối đa của các khoản tiền này.

Việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng không có căn cứ cụ thể nên khi áp dụng pháp luật có sự không thống nhất. Thông thường, để đưa ra mức cấp dưỡng này, Tòa án thường dựa vào hoàn cảnh kinh tế gia đình cũng như mức thu nhập bình quân để quyết định. Một số trường hợp, khi xét xử Hội đồng xét xử lại dựa vào mức lương tối thiểu để xác định mức cấp dưỡng, có trường hợp thì lại xác định mức cụ thể. Để pháp luật được áp dụng thống nhất cần cụ thể hóa khoản tiền cấp dưỡng hoặc đưa ra các căn cứ để xác định khoản tiền bồi thường này.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 609 BLDS 2005, người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 210 BLDS 2005, người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Xin luật sư cho em hỏi: ngày 16/10 vừa qua em có chở em họ đang mang bầu 8 tháng đi chơi. Không may em đâm vào xe máy đi ngược chiều. Hậu quả là em họ em ngồi đằng sau bị bong rau thai khi mổ cấp cứu thì cháu bé tử vong. Còn người mà bị em đâm vào thì bị rách da vùng trán phải khâu 8 mũi. Vậy em hỏi luật sư sau khi thống nhất 3 gia đình giải quyết nội bộ thì em phải viết đơn như nào ạ ? (em chịu trách nhiệm bồi thường cho cả người bị đâm và em họ em).

 Nếu các bên đã thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại rồi thì vấn đề bồi thường không được tòa án xem xét đến nữa. Tuy nhiên, do bạn là người gây ra tai nạn nên nếu nguyên nhân được xác định là do lỗi của bạn trong quá trình điều khiển xe máy nên bạn vẫn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi của bạn có đủ căn cứ cấu thành tội phạm "tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Theo quy định tại Điều 105 BLTTHS, chỉ có 11 tội phạm chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại tức người bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố được trong đó không có tội phạm trên. Do đó, bạn hay người bị hại cũng không thể rút đơn yêu cầu khởi tố trong trường hợp này.

Chào luật sư. Luật sư cho em hỏi? Có dùng rượu bia mà tham gia giao thông xảy ra tai nạn gây thiệt hại về người và phương tiện thì có được công ty bảo hiểm bồi thường không? Cả 2 phương tiện đều có mua bảo hiểm xe máy. Trân trọng cảm ơn!

Theo quy định của pháp luật Kinh Doanh bảo hiểm, Bên bảo hiểm chỉ có trách nhiệm chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trong trường hợp của bạn, người gây ra tai nạn giao thông có lỗi trong việc gây tai nạn, gây thiệt hại về mặt tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác do đó vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc hai bên đã mua bảo hiểm xe máy dẫn đến việc công ty bảo hiểm sẽ đứng ra chi trả số tiền bồi thường cho bên bị thiệt hại còn bên gây thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả cho công ty bảo hiểm số tiền trên.

Chào luật sư ạ! Cháu có chuyện này muốn luật sư tư vấn giúp. Gia đình cháu trồng sắn và để bả chuột, không may bò nhà hàng xóm vào vườn sắn nhà cháu ăn sắn và chết 3 con. Vậy gia đình cháu có phải bồi thường thiệt hại cho gia đình đó không ạ? 

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xảy ra khi có đủ các căn cứ sau: hành vi trái pháp luật, lỗi, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại thực tế xảy ra. Trong trường hợp này, mặc dù bên phía gia đình hàng xóm cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại là không trông giữ gia súc của mình tuy nhiên gia đình bạn là bên đã có hành vi sử dụng bả chuột và xâm phạm đến tài sản của phía bên kia với lỗi vô ý dẫn đễn gây thiệt hại trên thực tế. Do đó, trong trường hợp này thì gia đình bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại cho nhà hàng xóm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.