1. Các căn cứ xác lập quyền dân sự

Quan hệ dân sự được xác lập, thực hiện từ những hành vi pháp lý họp pháp là sự kiện pháp lý phổ biến và cơ bản trong đời sống xã hội. Kế thừa có chọn lọc các BLDS trước đây, nay BLDS năm 2015 coi những căn cứ sau là hợp pháp khi xác lập quyền dân sự. Căn cứ xác lập quyền dân sự khác căn cứ thông thường ở chỗ: nó sẽ là cơ sở phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định và được pháp luật dân sự tôn trọng bảo vệ. Căn cứ để xác lập quyền dân sự là những sự kiện pháp lý do BLDS quy định, trên cơ sở đó quyền dân sự được xác lập. Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:

- Hợp đồng;

- Hành vi pháp lý đơn phương;

- Quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của luật;

- Kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh; kết quả của hoạt động sáng tạo ra đổi tượng quyền sở hữu trí tuệ;

- Chiếm hữu tài sản;

- Sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

- BỊ thiệt hại do hành vi trái pháp luật;

- Thực hiện công việc không có ủy quyền;

- Căn cứ khác do pháp luật quy định.

2. Phương thức bảo vệ quyền dân sự khi bị xâm phạm

- Công nhận quyền dân sự của mình: Việc yêu cầu chủ thể khác công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình được coi là phương thức cơ bản nhất bởi lẽ ngay từ khi cá nhân, tổ chức có quyền dân sự và quyền dân sự đó được pháp luật công nhận thì các chủ thể có liên quan phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

- Buộc chấm dứt hành vi vi phạm: Khi một cá nhân, tổ chức, pháp nhân khác có hành vi xâm phạm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân thì cá nhân, pháp nhân có quyền yêu cầu chủ thể đang thực hiện hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm.

- Buộc xin lỗi, cải chính công khai: Trong trường hợp cá nhân, pháp nhân khác có hành vi xâm phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự ( xâm phạm quyền nhân thân ) của chủ thể có quyền thì chủ thể bị xâm phạm có quyền yêu cầu cá nhân, pháp nhân xâm phạm phải xin lỗi, cả chính công khai và đền bù tổn thất, thiệt hại ( nếu có ).

- Buộc thực hiện nghĩa vụ: Để bảo vệ quyền dân sự của mình, bên có quyền có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ nhằm đảm bảo quyền lợi cho mình.

- Buộc bồi thường thiệt hại: Trong trường hợp có thiệt hại xảy ra, cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc người chịu thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

- Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền: Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

3. Xác lập quyền dân sự qua hợp đồng

Hợp đồng là sự kiện pháp lý phổ biến nhất trong quan hệ dân sự được pháp luật dự liệu xảy ra trong thực tế sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự và có những hậu quả pháp lý nhất định. Sự kiện thông thường khác sự kiện pháp lý ở chỗ: nó không làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định và cũng không có sự tác động của các quy phạm pháp luật dân sự để hình thành một quan hệ dân sự. Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng dân sự được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (theo Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015).

Hợp đồng dân sự có các đặc điểm sau đây:

- Tính thỏa thuận: Thỏa thuận được hiểu được hiểu là đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận. Được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp.

Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất về mặt ý chí. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của Luật dân sự so với các ngành luật khác.

- Chủ thể tham gia hợp đồng dân sự: Trong hợp đồng dân sự ít nhất phải có hai bên, trong nhiều trường hợp có thể có nhiều bên vì hợp đồng dân sự là giao dịch pháp lí song phương hay đa phương. Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…).

- Mục đích của các bên tham gia hợp đồng dân sự là để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

4. Xác lập quyền dân sự thông qua hành vi pháp lí đơn phương

Hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hành vi pháp lí đơn phương khác hợp đồng ở chỗ, nếu hợp đồng là sự thể hiện ý chí của cả hai bên thì hành vi pháp lí đơn phương chỉ là ý chí của một bên chủ thể.

Do hành vi pháp lí đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên nên thông thường hành vi pháp lí đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp li khi những người khác đáp ứng những điều kiện nhất định do chủ thể xác lập giao dịch này đưa ra. Bên tham gia này phải đpa ứng đủ điều kiện đó thì mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch.

Hành vi pháp lý đơn phương là căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2015. Hành vi pháp lý đơn phương là căn cứ xác lập quyền dân sự trong quan hệ hứa thưởng (Điều 570 BLDS năm 2015) và thi có giải (Điều 573 BLDS năm 2015). Khoản 1 Điều 572 về trả thưởng BLDS năm 2015 quy định: “Trường họp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng”. Tương tự, khoản 3 Điều 573 về thi có giải BLDS 2015 quy định: “Người đoạt giải có quyền yêu cầu người tổ chức thi trao giải thưởng đúng mức đã công bố”. Như vậy, nếu các hành vi pháp lý đơn phương đáp ứng các quy định từ Điều 570 đến Điều 573 BLDS năm 2015, sẽ là căn cứ xác lập quyền dân sự về nhận thưởng, nhận giải thưởng. Hành vi pháp lý đơn phương là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 275 BLDS năm 2015.

5. Quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền là căn cứ xác lập quyền dân sự

Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật dân sự 2015 thì quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể là căn cứ xác lập quyền dân sự. Ví dụ như Điều 235 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác”.

Quyền dân sự và quyền sở hữu của một chủ thể còn có thể được xác lập theo thời hiệu khi có các điều kiện do pháp luật quy định như: người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì người ấy trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp BLDS năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác. Khi đó quyền dân sự và quyền sở hữu sẽ được xác lập và được công nhận kể từ thời điểm người đó bắt đầu chiếm hữu (Điều 236).

Quyền dân sự có thể chấm dứt khi có quyết định tịch biên, tịch thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ khi Nhà nước có quyết định thu hồi quyền sử dụng đất thì quyền sở hữu quyền sử dụng đất của người dân sẽ chấm dứt, đồng thời sẽ làm phát sinh quyền sử dụng, sở hữu của Nhà nước. Điều 244 BLDS năm 2016 quy định: “Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước .có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật”.

6. Quyền dân sự được xác lập thông qua kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh

Người lao động, sản xuất, kinh doanh sẽ được hưởng thành quả do mình bỏ công sức tạo ra, tuy nhiên, các hoạt động này phải hợp pháp và được pháp luật thừa nhận thì mới có căn cứ xác lập quyền dân sự. Có một đặc điểm nữa là, đối với hoạt động sáng tạo ra đối tượng sở hữu trí tuệ cũng là căn cứ pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật dân sự.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh; kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cũng là căn cứ xác lập quyền dân sự phổ biến trong đời sống xã hội. Đây cũng là căn cứ xác lập quyền sở hữu theo quy định tại Điều 222 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể Điều 222 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó. Người tiến hành hoạt động sáng tạo có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ hoạt động sáng tạo theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ”.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề căn cứ xác lập quyền dân sự. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Nếu có gì vướng mắc vui lòng liên hệ: 19006162 để được giải đáp.

Trân trọng./.