1. Quy định về khả năng phân biệt của nhãn hiệu?

Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định theo Điều 74 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Theo quy định này, một nhãn hiệu được xem là có khả năng phân biệt nếu nó được tạo thành từ một hoặc nhiều yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, hoặc từ sự kết hợp của nhiều yếu tố tạo thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ. Tuy nhiên, nhãn hiệu sẽ không được coi là có khả năng phân biệt trong các trường hợp sau:

- Nhãn hiệu được tạo thành từ hình ảnh đơn giản như hình hình học, chữ số, chữ cái, hoặc từ các chữ thuộc các ngôn ngữ không phổ biến (trừ trường hợp đã được sử dụng rộng rãi và công nhận là một nhãn hiệu).

- Nhãn hiệu là dấu hiệu, biểu tượng, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá hoặc dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng phổ biến, thường xuyên và được nhiều người biết đến.

- Nhãn hiệu chỉ mô tả thông tin về thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá hoặc dịch vụ (trừ trường hợp đã có khả năng phân biệt qua việc sử dụng trước khi đăng ký nhãn hiệu).

- Nhãn hiệu chỉ mô tả hình thức pháp lý hoặc lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh.

- Nhãn hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá hoặc dịch vụ (trừ trường hợp đã được sử dụng và công nhận rộng rãi như một nhãn hiệu hoặc đã được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định của Luật).

- Nhãn hiệu không được coi là liên quan trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự, dựa trên đơn đăng ký có ngày nộp hoặc ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu theo các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên).

- Nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và công nhận rộng rãi cho hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (trừ trường hợp nhãn hiệu đã hết hiệu lực do không sử dụng theo quy định tại Điều 95 khoản 1 của Luật).

- Nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký của người khác cho hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự, dựa trên đơn đăng ký có ngày nộp hoặc ngày ưu tiên sớm hơn.

Điều kiện để một nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt phụ thuộc vào sự độc đáo và khác biệt của nó so với các nhãn hiệu khác đã được sử dụng hoặc đăng ký trước đó. Cần phải đảm bảo rằng nhãn hiệu không gây nhầm lẫn hoặc sự nhầm lẫn tối thiểu với các nhãn hiệu hiện có. Điều này giúp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu nhãn hiệu và đảm bảo rằng người tiêu dùng có thể nhận biết và phân biệt được các sản phẩm hoặc dịch vụ của các nhãn hiệu khác nhau.

 

2. Lấy tên là AquaTina hoặc AquaNewa thì có phải là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Aquafina không?

Theo Điều 129 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, có một số hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Đầu tiên, việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho các hàng hoá, dịch vụ trong danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó là một hành vi xâm phạm. Tương tự, sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho các hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan mà có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ cũng bị coi là xâm phạm. Ngoài ra, sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho các hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan mà có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ cũng bị xem là xâm phạm.

Cuối cùng, sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho bất kỳ hàng hoá, dịch vụ nào, kể cả khi không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, cũng được coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Áp dụng vào trường hợp nước uống đóng chai mang tên AquaTina hoặc AquaNewa, nếu việc sử dụng những tên này gây nhầm lẫn và tạo ra ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu Aquafina, thì hành vi này sẽ được xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Aquafina.

 

3. Xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Căn cứ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu đang được bảo hộ

Phạm vi bảo hộ tổng thể và từng thành phần của nhãn hiệu: Đánh giá mức độ tương tự giữa dấu hiệu và nhãn hiệu tổng thể, cũng như với các thành phần có khả năng phân biệt của nhãn hiệu, đặc biệt là những thành phần gây ấn tượng mạnh đối với người tiêu dùng. Tính liên quan của hàng hóa, dịch vụ về chức năng, công dụng, thành phần cấu tạo: Xem xét thực tiễn và tập quán mua bán, phân phối, lựa chọn và sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Điều này bao gồm cả các điều kiện, phương thức và địa điểm bày bán, phân phối, tiếp thị, quảng bá, mua bán hàng hóa, dịch vụ.

Đặc điểm và mức độ chú ý của người tiêu dùng khi lựa chọn, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Những tiêu chí khác như thực tiễn sử dụng và bảo hộ các nhãn hiệu tương tự cho cùng loại hàng hóa; ảnh hưởng của các yếu tố khác tạo ra sự liên tưởng về mối quan hệ giữa hàng hóa, dịch vụ đang xem xét và hàng hóa, dịch vụ được bảo hộ. Chứng cứ về hậu quả nhầm lẫn đối với người tiêu dùng có thể được sử dụng để hỗ trợ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của việc sử dụng dấu hiệu. Tuy nhiên, điều này không phải là điều kiện bắt buộc trong việc đưa ra kết luận về khả năng gây nhầm lẫn của việc sử dụng dấu hiệu.

Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Trường hợp đầu tiên là khi dấu hiệu được sử dụng trùng với nhãn hiệu cho hàng hóa hoặc dịch vụ mà đã được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam, hoặc Công báo đăng ký quốc tế nhãn hiệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới. Trong trường hợp này, không cần xem xét khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó. Điều này có nghĩa là việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu không gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng, vì dấu hiệu này đã được chứng nhận và bảo hộ trước đó.

Trường hợp thứ hai là khi dấu hiệu được sử dụng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu cho hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự hoặc liên quan. Điều quan trọng ở đây là sự tương đồng giữa các hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan đến nhãn hiệu đã được xác định trong Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc Công báo đăng ký quốc tế nhãn hiệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới. Trong trường hợp này, chúng ta cần xem xét khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu. Việc sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được chứng nhận có thể gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng, đặc biệt là khi các hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan có mức độ tương đồng cao với nhau. Do đó, để xác định xem có xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, chúng ta cần xem xét cả yếu tố sự trùng hợp về dấu hiệu và cả khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu.

 Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng

Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng: Khi một dấu hiệu được sử dụng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc khi dấu hiệu đó được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho các hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả khi chúng không trùng, không tương tự và không liên quan đến các hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục của nhãn hiệu nổi tiếng, thì cần phải đánh giá khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó và chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều này không gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ nhưng gây ấn tượng sai lệch cho người tiêu dùng về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó và chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng thì cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Khi nộp đơn yêu cầu xử lý vi phạm đối với nhãn hiệu nổi tiếng, người sở hữu quyền phải cung cấp các chứng cứ chứng minh rằng nhãn hiệu đó đã nổi tiếng tại Việt Nam theo các tiêu chí quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ, không phụ thuộc vào việc nhãn hiệu đó đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam hay chưa.

Trước khi quyết định tiến hành thủ tục xử lý vi phạm, cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm sẽ căn cứ vào các tiêu chí quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 để xem xét, đánh giá xem một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng tại Việt Nam hay không. Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm có thể trao đổi ý kiến chuyên môn với Cục Sở hữu trí tuệ và/hoặc lấy ý kiến từ hội đồng tư vấn. Trong trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận tại Việt Nam theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc theo quyết định công nhận của Cục Sở hữu trí tuệ, cơ quan xử lý vi phạm có thể dựa vào các tài liệu liên quan để xem xét việc thừa nhận nhãn hiệu được coi là nổi tiếng tại Việt Nam, với điều kiện việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng của các cơ quan nêu trên tại thời điểm yêu cầu xử lý vi phạm vẫn phù hợp.

Xem thêm >>> Hành vi nào bị coi là xâm phạm bản quyền và các quyền liên quan ?

Nếu quý khách có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc vấn đề pháp lý, chúng tôi xin gửi đến quý khách một số thông tin cần thiết để quý khách có thể liên hệ trực tiếp và được hỗ trợ giải quyết một cách nhanh chóng và kịp thời. Để đảm bảo rằng mọi vấn đề của quý khách được giải đáp và xử lý một cách đầy đủ và chính xác, chúng tôi trang bị một dịch vụ hỗ trợ khách hàng toàn diện. Quý khách có thể liên hệ với chúng tôi thông qua hotline: 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.