NỘI DUNG TƯ VẤN

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002,

Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014

1. Quy định trước đây về xét xử sơ thẩm hình sự

Theo quy định tại Khoản 1 - › 11 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Toà ...: thực hiện chế độ hai cấp xét xử. xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm,

Toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng.

Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động gồm 01 thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế, gồm có. 02 Thẩm phán và 01 Hội thẩm nhân dân. Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có 02 thẩm phán và 03 Hội thẩm nhân dân.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành.

2. Khái niệm xet xử sơ thẩm:

Xét xử sơ thẩm được hiểu là việc giải quyết một vụ án lần đầu theo thẩm quyền xét xử tuỳ từng tính chất, mức độ, lĩnh vực vi phạm khác nhau mà thẩm quyền giải quyêt của toá án cũng khác nhau.

3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:

+ Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;
d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;
b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;
c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.
Lưu ý:

Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

+ Tiếng nói, chứ viết được dùng tại toà án:

Tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án là tiếng Việt.

Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án nhân dân, trường hợp này phải có phiên dịch.

4. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là gì ?

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó, toà án có thẩm quyền (cấp xét xử thứ nhất) thực hiện trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà xem xét, giải quyết vụ án bằng việc ra bản án quyết định bị cáo (hoặc các bị cáo) có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó, việc xét xử vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng. Tại phiên toà, trên cơ sở những chứng cứ đã được kiểm tra công khai, toà án ra bản án xác định bị cáo có tội hay không có tội. Nếu bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội thì đó là tội gì, được quy định tại điều khoản nào của BLHS. Ngoài việc ra bản án, toà án còn có quyền ra các quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ án như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án... Theo nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo, bản án và quyết định sơ thẩm của toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị frong thời hạn luật định thì có hiệu lực pháp luật nhưng nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Như vậy, có thể nói xét xử sơ thẩm là xét xử lần đàu do toà án có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.(1) Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là toà án nhân dân cấp huyện, toà án quân sự khu vực, toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sự cấp quân khu.

5. Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi toà án thụ lí vụ án. Do vậy, mọi chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để toà án xem xét, kiểm tra nhằm đưa ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy định của pháp luật. Tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai tại phiên toà thông qua tranh tụng tại phiên toà (xét hỏi và tranh luận). Xét xử sơ thẩm là xét xử ở cấp thứ nhất nên trong giai đoạn này, toà án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng hay quyết định truy tố (nếu vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn) của viện kiểm sát. Do vậy, nhiệm vụ của giai đoạn này được thể hiện như sau:

- Xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân, góp phần phòng ngừa và chống tội phạm;

- Trên cơ sở cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) của viện kiểm sát, giai đoạn này có nhiệm vụ xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố để đưa ra phán quyết, quyết định bị cáo có tội hay không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp; trách nhiệm bồi thường thiệt hai, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; bị cáo có thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt hay không; án phí hình sự, án phí dân sự; xử lí vật chứng, tài sản bị kê biên, tài sản bị phong tỏa.

6. Trình tự, thủ tục của một phiên toà xét xử sơ thẩm:

Một phiên toà xét xử sơ thẩm được chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Thủ tục bắt đầu phiên toà:

+ Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án phải tiến hành các công việc:

Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;

Phổ biến nội quy phiên tòa.

+ Khai mạc phiên toà:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt.

. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ.

Chủ toạ phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án...

Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

- Giai đoạn 2: Tranh tụng tại phiên toà:

Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung .

Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.(chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.)

Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên chỉ được công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;

b) Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố;

c) Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;

d) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.

Chủ toạ hỏi bị cáo, hỏi bị hại, đương sự hoặc người địa diện của họ, người làm chứng. Sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự xem xét vật chứng, nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, xem xét tai chỗ....

Điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành, tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ nhưng quyết định, hành vi tố tụng.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội.

Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.

Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.

Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.

- Giai đoạn 3: Nghị án và tuyên án

7. Ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Góp phần bảo vệ công lí, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ pháp chế;

- Thông qua việc xét xử và đặc biệt là qua xét xử công khai, giai đoạn xét xử sơ thẩm góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội;

- Hoạt động xét xử tại phiên toà còn góp phần nâng cao ý thức phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê