1. Xin hỏi về mức bồi thường trong tai nạn giao thông ?

Xin chào luật minh khuê, Tôi có một câu hỏi xin mong được luật minh khuê tư vấn và giải đáp như sau. Vừa qua anh trai tôi có xảy ra tai nạn giao thông và chi tiết vụ việc như sau. Vào tối tầm 10h anh trai tôi có đi uống bia cùng những người bạn. Và sau đó đi về nhà, trên đường về nhà thì có xảy ra tai nạn với 1 chiếc xe nâng bánh hơi.

Do chiếc xe nâng này đi từ trong hẻm ra đường chính băng ngang đường. Do xe nâng không có đèn chiếu sáng và người hướng dẫn xe băng qua đường. Do vậy mà anh trai tôi bị bất ngờ và không phanh kịp. Và tông vào chiếc xe nâng này. Anh trai tôi đang đi đúng phần đường và trong vận tốc tối đa cho phép trong đoạn đường này. Sau khi xảy ra tai nạn anh trai tôi được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Và được các định là bị nứt sọ não và xuất hiện máu tụ sau não bán cầu trái và gẫy xương quai hàm. Và qua xét nghiệm thì anh trai tôi có nồng độ cồn là 1. 99. Và hiện tại vẫn đang được điều trị tại bệnh viện. Còn phía bên kia không có bị thiệt hại về người và xe gì cả. Hiện cơ quan công an đang điều tra sự việc.

Vậy như trường hợp ở trên anh trai tôi có được bồi thường thiệt hại hay không. Và có phải chịu trách nhiệm gì hay không. Và nếu được đền bù thiệt hại thì anh trai tôi cần phải làm nhưng giấy tờ gì ?

Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Vì phần thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ và chưa có kết luận cuối cùng của bên phía cơ quan điều tra xác định hai bên va chạm bên nào đi đúng quy định và bên nào sai, cho nên, chúng tôi chưa thể khẳng định chính xác anh trai bạn có được bồi thường thiệt hại hay không. Theo đó, căn cứ theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 thì bên gây thiệt hại cho người khác mà xác định thiệt hại đó là do lỗi của bên gây thiệt hại thì phải bồi thường những khoản chi phí bao gồm: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị giảm sút, bồi thường tổn thất về tinh thần... Cụ thể:

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, theo quy định trên thì tùy theo kết luận của cơ quan điều tra về mức độ lỗi của các bên mà xác định rằng anh trai bạn có được bồi thường hay không. Trong trường hợp anh bạn được bên gây thiệt hại bồi thường thì hai bên gia đình có quyền thỏa thuận với nhau về số tiền bồi thường. Nếu hai gia đình không thỏa thuận được với nhau thì gia đình bạn có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân quận, huyện nơi bên thiệt hại đang cư trú để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Tham khảo thêm nội dung: Thủ tục khởi kiện về người gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả chết người ?

>> Xem thêm:  Bất hồi tố là gì ? Khái niệm về bất hồi tố ?

2. Tư vấn xử lý trường hợp tai nạn giao thông do sử dụng bia rượu ?

Dạ a ơi. Cho em hỏi. Em đi xe máy trên đường ưu tiên. Nhưng em có chạy quá tốc độ cho phép và có va chạm với một xe máy đi trong đường nhánh và chạy ngang qua đường. Người chạy trong đường nhánh đã có sử dụng rượu bia. Em có lỗi là chạy quá tốc độ gây tai nạn. Còn bên kia có vi phạm không ạ.
- VLOG GIẢI TRÍ TỔNG HỢP

>> Xem thêm:  Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì ? Quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự?

3. Trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư! Mong luật sư giải đáp thắc mắc cho tôi. Tôi đi phương tiện xe máy trên tuyến đường láng Hạ rẽ phải sang Nguyễn Chí Thanh thì có va chạm với một bà cụ đi bộ sang đường.

Cụ thể là ở đó không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và cũng đang là đèn xanh cho xe cộ đi, bà cụ đột ngột sang đường và khi thấy bà tôi đã lập tức bẻ lái tránh để cho xe đổ để không làm thương bà. Xe tôi đổ bánh xa va vào chân bà và bà bị ngã. Tôi lập tức đưa bà đến bệnh viện chăm sóc bà thậm chí bỏ thi và gọi công an đến tìm người thân cho bà. Xin hỏi, tôi có phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và bồi thường hay không trên mặt pháp lý?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về trách nhiệm hình sự:

Theo Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp này anh bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự thì người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này phải có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Việc gây ra tai nạn này anh bạn hoàn toàn không có lỗi trong việc để tai nạn xảy ra và anh bạn cũng không vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Nên anh bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan đến tội phạm này.

Về trách nhiệm dân sự( trách nhiệm bồi thường thiệt hại):

Theo Điều 617 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

Trong trường hợp tai nạn này là do bà cụ sang đường không đúng luật dẫn đến tai nạn. Bạn không vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, do đó bạn hoàn toàn không có lỗi trong việc để tai nạn xảy ra cho người bà cụ. Theo điều 617 Bộ luật dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi, theo đó việc tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị hại thì người gây thiệt hại sẽ không phải bồi thường. Như vậy bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo bài viết: Rút đơn tố cáo người gây tai nạn giao thông thì người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

>> Xem thêm:  Năng lực trách nhiệm pháp lý là gì ? Quy định về năng lực trách nhiệm pháp lý

4. Bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông ?

Chào luật sư Tôi có một băn khoăn xin luật sư trả lời giúp. Nội dung sự việc như sau: Vào lúc 14 giờ ngày 24/02/2016, ông M đang đi xe đạp theo chiều lên thị trấn; khi đi đến đoạn đối diện nhà ông K cư trú tại tỉnh B thì anh T đi xe máy mang biển kiểm soát 12T1 -5733 đâm vào đằng sau, sát lề đường (đã có biên bản hiện trường tai nạn giao thông của công an huyện).

Ông M phải đi cấp cứu ở bệnh viện huyện. Trong quá trình điều trị tại bệnh viện có đi chụp chiếu tại bệnh viện tuyến tỉnh ( ngày 25/02/2016) gồm chụp citi sọ não, chụp X- quang cột sống thắt lưng, chụp X-quang khớp gối trái. Sau đó tiếp tục điều trị ở bệnh viện huyện. Sau khi tiêm hết liều kháng sinh thì làm thủ tục ra viện (chiều ngày 29/02/2016) đồng thời 2 bên thương lượng. Anh T nhất trí bồi thường cho gia đình 10 triệu đồng. Sau đó anh T đã bồi thường 10 triệu đồng cho gia đình. Anh T nhìn thấy từ xa nên vội vàng chở nạn nhân đi viện lúc đó có người cháu cùng làng ngồi sau ôm nạn nhân. Tuy nhiên khi đi đến cổng bệnh viện anh T đã đưa cho người cháu đi theo 400.000 và bỏ mặc nạn nhân cho người cháu. Sau đó công an đã đo vẽ hiện trường tai nạn giao thông, có con gái nạn nhân cùng đo và kí biên bản hiện trường tai nạn giao thông. Đến khoảng 6h chiều cùng ngày sau khi người dân chứng kiến vụ va chạm giao thông đăng ảnh biển số xe máy của người gây tai nạn lên facebook thì anh T mới tới bệnh viện. Khi được hỏi tại sao lại bỏ đi anh ta trả lời về thay quần áo. Sau đó hai bên gia đình đã làm biên bản thỏa thuận như đã nêu ở trên. Đến ngày 8/3/2016 do thấy nạn nhân không có gì bất thường , gia đình không muốn kiện cáo người gây tai nạn nên hai bên gia đình đã lên cơ quan công an huyện nộp toàn bộ biên bản; đồng thời để anh T lấy xe máy về. Tuy nhiên đến 30/4 /2016 nạn nhân có những biểu hiện không bình thường( huyết áp cao, lú lẫn, co giật, liệt 1 bên tay, hôn mê có nguy cơ tử vong) gia đình đã đưa nạn nhân đến bệnh viện tuyến tỉnh được chuẩn đoán tụ máu não mãn tính. 5h chiều 1/5 nạn nhân được chuyển lên bệnh viện Việt Đức, Sau đó Bác Sĩ chỉ định mổ vào ngày 2/5. Cũng trong ngày 2/5 trưởng thôn có gọi cho anh T để thông báo tình hình. Sau đó anh T gọi điện cho nạn nhân nói rằng: bận không xuống thăm được, khi nào về nói chuyện sau. Từ đó cho đến nay anh T không 1 lần hỏi thăm, gia đình chủ động liên lạc nhưng không bắt máy. Về phần nạn nhân đến ngày 16/5 thì được xuất viện, đi khám lại Bác Sĩ kết luận vẫn còn khối máu tụ, tiếp tục điều trị, 3 tháng sau khám lại. Khoảng từ 29 đến 31/5 nạn nhân sốt cao, tiếp tục vào viện để điều trị Đến nay vẫn chưa khỏi. Vậy xin hỏi:

- Người gây tai nạn có phải tiếp tục bồi thường không ?

- Gia đình nạn nhân muốn người gây tai nạn hỗ trợ 1 phần chi chí cứu chữa thì gặp ai ?

- Cơ quan nào có trách nhiệm trong việc buộc người gây tai nạn hỗ trợ một phần chi phí ?

- Tôi có thể làm đơn kiến nghị lên viện kiểm sát và công an huyện không và làm như thế nào ?

Bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Người gây tai nạn có phải tiếp tục bồi thường không ?

Căn cứ theo Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

" Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015:

" Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình."

Như vậy, căn cứ vào nguyên tắc bồi thường thiệt hại và thiệt hại xảy ra, nếu các bên đã thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại tức là đã xác định được chi phí, cho nên nếu anh T đã thỏa thuận đền bù được với gia đình bạn thì trách nhiệm dân sự của anh T đã thực hiện xong nên không phải tiếp tục bồi thường thiệt hại, gia đình bạn phải tự chi trả viện phí.

2. Gia đình nạn nhân muốn người gây tai nạn hỗ trợ 1 phần chi chí cứu chữa thì gặp ai ?

Theo phân tích ở trên, bạn có thể thỏa thuận với người gây tai nạn để thỏa thuận về việc bồi thường.

3. Cơ quan nào có trách nhiệm trong việc buộc người gây tai nạn hỗ trợ một phần chi phí ?

Tôi có thể làm đơn kiến nghị lên viện kiểm sát và công an huyện không và làm như thế nào ?

Trong trường hợp người gây thiệt hại không tự nguyện bồi thường hoặc cả hai bên không thỏa thuận được có thể nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại tới Tòa án để được giải quyết. Trong hồ sơ khởi kiện gồm những giấy tờ sau:

- Đơn khởi kiện

- Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện

>> Xem thêm: Bị tai nạn giao thông do lỗi của bên gây tai nạn ? Yêu cầu Viện Kiểm Sát, Công an khởi tố vụ án như thế nào ?

>> Xem thêm:  Tai nạn giao thông là gì ? Quy định chung về tai nạn giao thông

5. Tư vấn trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư! Tôi tên là Nguyễn Thế X. Trong ngày hôm nay gia đình tôi gặp một trường hợp tai nạn giao thông như sau, rất mong nhận được lời tư vấn sớm nhất có thể. Có ba xe máy lưu thông trên đường cùng chiều, xe thứ nhất đèo hai người chở thanh sắt dài, sau đó đến xe của anh tôi và tiếp là xe của một phụ nữ đang mang thai 6 tháng.

Đang lưu thông trên đường xe chở sắt họ lại chuyển cây sắt sang vai bên khác làm cây sắt xiên ra phần đường khiến anh tôi đánh lái sang trái để tránh cây sắt, một phụ nữ đi đằng sau anh tôi cũng bất ngờ phanh xe và tự ngã không va chạm vào xe của anh tôi. Anh tôi nhanh chóng đưa chị ta đi viện và đóng cọc viện phí một triệu đồng. Nay tình trạng bệnh nhân ổn định nhưng không giữ lại được tính mạng cái thai và yêu cầu anh trai tôi bồi thường. Xin hỏi trong trường hợp này anh tôi có phải chịu trách nhiệm hay không? Cảm ơn văn phòng luật sư rất nhiều. Mong nhận được câu trả lời sớm nhất.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Điều 12 Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 của Quốc hội quy định:

"Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đặt biển báo tốc độ trên các tuyến đường do địa phương quản lý."

Như vậy, khi anh trai bạn lái xe cần phải giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền kề phí trước thì sẽ đủ thời gian để xử lý tình huống, đảm bảo được an toàn cho mình và cả người tham gia giao thông khác bao gồm người phụ nữ kia, người phụ nữ kia sẽ không bị ngã dẫn đến việc sảy thai và ảnh hưởng đến sức khỏe. Anh trai bạn nếu như đi quá sát với chiếc xe chở sắt cũng có thể gây ra tai nạn từ đó phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại với người phụ nữ đang mang thai.

Trong trường hợp anh bạn vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ có thể sẽ bị truy cứu chịu trách nhiệm hình sự. Do theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự thì người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và nếugây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người phụ nữ kia thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, nếu anh trai bạn đã duy trì khoảng cách tối thiểu giữa các xe, nhưng vì do thanh sắt quá dài, thì trong trường hợp này anh trai bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Nếu có căn cứ cho rằng việc người phụ nữ kia bị sảy thai và thiệt hại về sức khỏe là do một phần lỗi của anh trai bạn, thì lúc này anh trai bạn phải bồi thường thiệt hại cho người phụ nữ này. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều 604 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Anh bạn cũng có lỗi trong việc gây ra tai nạn cho người phụ nữ đó. Như vậy anh bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm: Hướng dẫn về bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông ?

>> Xem thêm:  Trách nhiệm pháp lý quốc tế là gì ? Quy định về trách nhiệm pháp lý quốc tế

6. Xin tư vấn về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông chết người

Kính chào luật sư Minh Khuê! Tôi có vướng mắc mong luật sư tư vấn giúp như sau: Cháu tôi trên đường đi học có đi xe đạp đúng phần đường và đúng quy định của Luật an toàn giao thông đường bộ thì bị một người đi xe taxi đâm vào, sau khi gây tai nạn người lái xe không đưa cháu tôi đi cấp cứu mà bỏ trốn, hiện công an đang truy nã người này.

Vậy trong trường hợp này: Nếu người này bị bắt thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự thế nào và mức bồi thường cho gia đình tôi ra sao?

Xin cảm ơn và mong phản hồi sớm từ luật sư !

Xin tư vấn về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông chết người

Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã tin tưởng luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và trả lời như sau :

Căn cứ Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có quy định như sau:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Vậy trường hợp của người tài xế nêu trên có thể rơi vào trường hợp điểm c khoản 2 điều 260 nêu trên, vì thuộc trường hợp gây tai nạn làm chết 1 người nhưng không cứu giúp. Hành vi bỏ trốn để trốn tránh trách nhiệm hình sự cũng như dân sự cũng sẽ là một tình tiết để không cho người này nhận được sự khoan hồng của pháp luật .

Về khía cạnh dân sự người này sẽ phải bồi thường cho thân nhân của người đã khuất những khoản như sau :

Theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự 2015

"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe năm 2021

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các khoản phải bồi thường khi làm người khác bị thương?

Trả lời:

Người gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại các khoản tiền sau:

– Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút;

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

– Thiệt hại khác do pháp luật quy định.

– Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Câu hỏi: Không có lỗi thì có phải bồi thường thiệt hại không?

Trả lời:

Người gây thiệt hại bồi thường khi cả không có lỗi

Lỗi là yếu tố bắt buộc khi xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, đối với trường hợp thiệt hại xảy ra do sức khỏe bị xâm phạm, kể cả bên gây thiệt hại không có lỗi cũng phải bồi thường.

Ví dụ như việc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, bên gây thiệt hại phải bồi thường kể cả không có lỗi; trừ trường hợp thiệt hại gây ra do lỗi cố ý của bên bị thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết. 

Câu hỏi: Gây tai nạn chết người thì phải bồi thưởng những khoản nào?

Trả lời:

Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại khi tính mạng bị xâm hại như sau:

“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”