1. Cách xóa tên cha sau khi ly hôn trong giấy khai sinh của con ?

Xin chào luật sư. Thưa luật sư em muốn hỏi sau khi ly hôn người cha và họ hàng không đóai hoài đến người con, em có thể xóa bỏ tên người cha ra khỏi giấy khai sinh để không liên quan đến bên chồng nữa có được không?
Xin chân thành cảm ơn ạ!

Luật sư tư vấn:

Muốn xóa tên cha trong giấy khai sinh của con sau khi đã ly hôn có được không ?

Căn cứ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Vậy Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này. (Khoản 6 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014). Theo đó nội dung đăng ký khai sinh gồm:

+ Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;

+ Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;

+ Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.

Theo quy định trên, con trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Mặc dù, vợ chồng bạn đã được tòa án xử cho ly hôn nhưng pháp luật không tước quyền làm cha của chồng bạn và Pháp luật hôn nhân gia đình và hộ tịch hiện hành quy định quan hệ giữa cha và con có thể là quan hệ dựa trên yếu tố huyết thống (quan hệ giữa cha đẻ và con đẻ) hoặc dựa trên quan hệ nuôi dưỡng (quan hệ giữa cha nuôi và con nuôi). Vì vậy, nếu muốn xóa tên cha của cháu ra khỏi giấy khai sinh của đứa con thì bạn cần phải có sự đồng ý của bố cháu (người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình), và thẩm quyền giải quyết thuộc tòa án. Hơn nữa, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 , Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan (viện dẫn theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014). Do đó, trường hợp của bạn khi và chỉ khi chồng cũ của bạn và con bạn sinh ra không có dòng máu huyêt thống thì mới bỏ thông tin của người cha ra khỏi giấy khai sinh của con bạn được. Trước tiên bạn phải làm thủ tục yêu cầu Tòa án không công nhận đứa bé là con của chồng bạn. Khi có phán quyết của tòa công nhận cháu bé không phải là con của chồng bạn thì lúc đó Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ làm thủ tục cần thiết để xóa tên chồng bạn trong giấy khai sinh của bé. Theo đó, bạn sẽ nộp tờ khai cải chính thông tin trên giấy khai sinh và đồng thời cung cấp phán quyết của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha con để tiến hành cải chính thông tin trên giấy khai sinh của con mình.

Thẩm quyền cải chính hộ tịch (Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014)

Ủy ban nhân dân cấp xã cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi

Ủy ban nhân dân cấp huyện cải chính hộ tịch cho người đủ 14 tuổi trở lên

Thủ tục cải chính hộ tịch (Điều 28 Luật Hộ tịch năm 2014)

- Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

- Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Có được xóa tên cha trong Giấy khai sinh và tử bỏ quyền làm cha ?

>> Xem thêm:  Khi ly hôn người vợ được hưởng quyền lợi gì không ? Ly hôn phải đóng những khoản phí gì ?

2. Giải quyết ly hôn trong trường hợp vợ, chồng vắng mặt

Xin chào luật sư tôi xin hỏi vấn đề về hôn nhân: tôi đã ly thân với vợ tôi từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 3 năm 2018 tôi có nộp đơn ra toà án, hồ sơ của tôi là đơn phương lúc đi nộp vợ tôi có đi ra cùng nhưng nói là đồng ý cho cô ý nuôi con thì cô ý ký thuận tình ko thì anh cứ nộp đơn ly hôn đơn phương, tôi không đồng ý. Tôi bảo tôi cũng muốn nuôi con cô cũng muốn nuôi thì để toà quyết định, tôi nộp hồ sơ từ cuối tháng 3 năm 2018 tới nay là tháng 7 năm 2018 mới được hơn 3 tháng mà vẫn chưa thấy toà gọi tôi để giải quyết. Liệu tôi có cần phải đến toà đê hỏi về hồ sơ ly hôn của tôi ko hay cứ đợi toà gọi mà phải đợi lâu nhất là thời gian bao lâu.
Nếu khi toà gọi mà vợ tôi cố tình ko đi vắng mặt cả các lần toà gọi thì toà có giải quyết ly hôn cho tôi ko ?
Xin luật sư tư vấn, xin cảm ơn!

Luật sư trả lời:

- Tại Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thời gian nhận và xử lý đơn ly hôn đơn phương là khoảng 8 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện nếu có đủ điều kiện yêu cầu.

- Điều 195 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thụ lý vụ án:

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí...

=> Sau 7 ngày kể từ khi nhận được giấy thông báo của Tòa án về việc nộp tiền án phí, anh phải đến nộp tiền án phí tại Chi cục thi hành án Dân sự và nộp lại biên lai cho Tòa án.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn khác xác định:

Thời hạn giải quyết việc ly hôn đơn phương tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật quy định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án.

Như vậy, anh đã nộp đơn ly hôn được hơn 3 tháng mà Tòa án chưa ra thông báo gì về việc giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn thì anh nên đến Tòa án nhân nhân nơi nộp đơn để hỏi về nguyên nhân của việc chưa mở phiên tòa giải quyết.

- Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

“1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật:

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

- Tại điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa:

“Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.”

- Khoản 1 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn hoãn phiên tòa:

“1. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này. Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.”

Như vậy, nếu trường hợp vơ bạn vắng mặt khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì Tòa sẽ hoãn phiên xét xử. Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá một tháng nên sau khi đã có quyết định tạm hoãn phiên tòa thì trong vòng 01 tháng sau Tòa phải triệu tập lần thứ hai để đưa vụ án ra xét xử. Nếu Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vợ bạn vẫn vắng mặt thì Tòa sẽ tuyên bố xét xử vắng mặt.

>> Xem thêm:  Chưa ly hôn đã tổ chức đám cưới với người khác thì xử lý thế nào ? Quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Chia tài sản khi ly hôn đối với tài sản em gái tặng cho ?

Kính gửi Luật sư! Tôi đã có gia đình và tôi có mua 1 mảnh đất ở nếu tôi kế thừa lại mảnh đất cho chị gái là chị ruột của tôi thì tôi có phải đóng thuế không? Và sau này nếu chi gái tôi ly hôn thì anh rể có được hưởng phần đất do tôi kế thừa lại cho chị tôi không ?
Cảm ơn!

Giải quyết ly hôn trong trường hợp vợ, chồng vắng mặt

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về chia tài sản, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo khoản 1 điều 3 các điều khoản thu nhập được miễn thuế tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân quy định:

"1. Căn cứ quy định tại Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 4 của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.

Trường hợp bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế.

b) Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

c) Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cá nhân được miễn, giảm tiền sử dụng đất khi giao đất, nếu chuyển nhượng diện tích đất được miễn, giảm tiền sử dụng đất thì khai, nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư này.

d) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.

đ) Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp để hợp lý hóa sản xuất nông nghiệp nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Nhà nước giao để sản xuất.

e) Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác.

g) Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.

h) Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận được từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập tại nước ngoài gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước.

Căn cứ xác định thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là các giấy tờ chứng minh nguồn tiền nhận từ nước ngoài và chứng từ chi tiền của tổ chức trả hộ (nếu có).

i) Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:

k) Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện.

Cá nhân sinh sống, làm việc tại Việt Nam được miễn thuế đối với tiền lương hưu được trả từnước ngoài.

m) Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

n) Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật về bồi thường Nhà nước.

p) Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận.

Quỹ từ thiện nêu tại điểm này là quỹ từ thiện được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.

Căn cứ xác định thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được miễn thuế tại điểm này là văn bản hoặc quyết định trao khoản thu nhập của quỹ từ thiện và chứng từ chi tiền, hiện vật từ quỹ từ thiện.

q) Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế tại điểm này là văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt việc nhận viện trợ....."

Như vậy, căn cứ vào quy định pháp luật trên thì bạn để lại thừa kế cho chị gái bạn, trường hợp này sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì nếu bạn để thừa kế lại cho riêng chị bạn thì đây sẽ được coi là tài sản riêng của chị (nếu chị bạn không có thỏa thuận khác với anh rể bạn) do đó khi ly hôn anh rể bạn sẽ không được chia tài sản này.

>> Xem thêm:  Hạn chế quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn ? Chia tài sản khi ly hôn ?

4. Có phải ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Kính gửi, Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật- Công ty LuậtTNHH Minh Khuê Xin chân thành cảm ơn các anh chị đã bỏ thời gian để trả lời câu hỏi của em. Nội dung câu hỏi: Dạ thưa luật sư, Cháu tên là Linh năm nay 20 tuổi hiện đang là sinh viên, cháu còn một em gái 15 tuổi đang học lớp 9. Bố mẹ cháu là nông dân, lấy nhau năm 1995 nhưng đến nay (2016) vẫn không có giấy đăng ký kết hôn, tài sản hiện có đều do bố mẹ cháu cùng làm ra nhưng mẹ cháu là người làm nhiều hơn cả.
Bây giờ mẹ cháu muốn ly hôn do bố cháu sống quá khắt khe về mọi mặt, luật sư cho cháu hỏi khi ly hôn tài sản sẽ được chia như thế nào, bố cháu hay mẹ cháu ai bị thiệt khi cháu và em đều muốn sống cùng mẹ? Quyền nuôi con sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Về mặt pháp lý bố mẹ cháu không phải là vợ chồng thì sẽ tác động như thế nào đến việc ly hôn này ạ?
Cháu xin cảm ơn luật sư đã bỏ thời gian đọc và trả lời câu hỏi của cháu.

Ly hôn khi chưa đăng kí kết hôn ?

Luật sư tư vấn về pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 quy định :

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

=> Như vậy, đối với vấn đề nuôi con thì vẫn tuân theo nguyên tắc điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 theo đó:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi > về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

=> Do đó, Khi bố mẹ bạn ly hôn mà bạn năm này đã 20 tuổi còn em gái bạn đã 15 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của hai bạn muốn được ở với hai sau khi bố mẹ bạn ly hôn.

Về vấn đề tài sản:

Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản > riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ > quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn thủ tục ly hôn: Quyền thăm con và chia tài sản ?

Xin kính chào Luật Minh Khuê, Em có một số thắc mắc muốn hỏi xin được giải đáp. Em vừa lập gia đình cách đây 2 năm và có một đứa con được 14 tháng tuổi. Do cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm nên tình cảm không còn như lúc trước và em quyết định ly hôn: Về phần con chung sau khi ly hôn em có được quyền đến thăm con và chở con về nhà nội chơi không. Về tài sản chung do vợ chồng mới cưới nên không có gì. Phần vàng cưới gia đình có cho gia đình bên vợ 2 cây vàng.
Vậy nếu khi ly hôn thì phần tài sản đó có phải là tài sản chung và được phân chia như thế nào ?
Xin chân thành cám ơn
Người hỏi: LH Nam

Trả lời:

Thứ nhất, về phần con chung sẽ được giải quyết như sau:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác”.

Hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

11. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92).

Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

b. Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

c. Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai.

Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Theo đó, sau khi ly hôn cả vợ và chồng đều có nghĩa vụ phải trông nom, chăm sóc, giáo dục con,.. điều này được thực hiện cụ thể ra sao sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai người. Trong trường hợp nếu như anh và vợ không thỏa thuận được với nhau thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Thứ hai, theo như dữ liệu anh cung cấp thì tôi hiểu được rằng 2 cây vàng này là vàng mà gia đình anh cho bên gia đình vợ anh khi anh kết hôn.

Vậy nên, căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó, số tài sản 2 cây vàng này là tài sản do gia đình anh đã tặng cho gia đình của vợ anh khi anh chị kết hôn. Tài sản này sẽ thuộc quyền sở hữu của gia đình bên vợ anh chứ không phải là khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn ly hôn khi hai vợ chồng không có chung sổ hộ khẩu ? Quyền chăm sóc con sau ly hôn ?