1. Chồng có quyền đưa đón, thăm nom con sau khi ly hôn không ?

Em chào luật sư, Em tên T, đang sống tại Gia Lâm, Hà Nội. Vi điều kiện con nhỏ và phải đi làm nên em chưa sắp được thời gian để tực tiếp sang văn phòng luật sư tư vấn được. Hôm nay, em có đọc được là văn phòng mình tư vấn của email nên em viết email này nhờ luật sư tư vấn giúp em. Vì chưa biết có gửi được không nên em chưa viết nội dung ra đây, nếu văn phòng mình nhận được email xin p.m lại giúp em để em biết. Và xin công ty cho em biết về dịch vụ tư vấn của công ty mình.
Em xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Tư vấn pháp luật miễn phí qua email:

Nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của Quý khách hàng trên mọi miền của tổ quốc, Công ty luật Minh Khuê luôn thống nhất chính sách tư vấn, hỗ trợ pháp luật miễn phí. Chúng tôi tư vấn pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống như: Tư vấn luật dân sự, tư vấn luật hình sự, tư vấn luật hôn nhân gia đình, tư vấn luật đất đai, tư vấn tranh chấp tại tòa án. Với một hình thức vô cùng đơn giản, Quý khách hàng chỉ cần gửi câu hỏi qua email: .Mọi câu hỏi sẽ được đội ngũ luật sư uy tín, giàu kinh nghiệm của công ty trả lời trong vòng 7-15 ngày làm việc. Hình thức này hoàn toàn miễn phí (Tham khảo: Chính sách tư vấn pháp luật miễn phí qua email).

Quý khách hàng cũng có thể đặt câu hỏi trực tuyến, trực tiếp trên hệ thống website của chúng tôi, tại cuối mỗi bài viết Quý khách chỉ cần click vào mục đặt câu hỏi tại đây và điền đầu đủ các thông tin vào thư mục (theo hình ảnh minh họa dưới đây):

Tư vấn pháp luật miễn phí và trả phí qua email

Ưu điểm của hình thức tư vấn luật miễn phí qua email:

- Đơn giản, dễ dàng thực hiện với tất cả mọi người;

- Thời hạn tương tác rất nhanh giữa khách hàng và luật sư;

- Chi phí thấp, tiết kiệm tối đa thời gian và công sức;

- Khách hàng có thể là bất kỳ ai, bất kỳ ở nơi đâu;

Một số nhược điểm của hình thức này:

- Tương tác mang tính một chiều, đôi khi những vấn đề pháp lý phức tạp rất khó để tìm được tiếng nói chung giữa luật sư và khách hàng;

- Một câu hỏi có thể phải tương tác nhiều lần mới có thể thỏa mãn được khách hàng;

- Số lượng câu hỏi nhận được trong ngày là quá lớn.

Một số lưu ý khi sử dụng hình thức tư vấn qua email của Luật Minh Khuê:

Để đảm bảo chất lượng của hoạt động tư vấn, Xin quý khách hàng lưu ý một số vấn đề nhỏ sau để tạo điện kiện thuận lợi cho đội ngũ luật sư của chúng tôi tương tác với khách hàng:

+ Câu hỏi phải được gõ bằng tiếng việt có dấu.

+ Câu hỏi phải có nội dung rõ ràng (Chúng tôi không trả lời những câu hỏi không rõ ý, rõ nghĩa, viết chung chung...)

+ Các vấn đề cá nhân sẽ dược bảo mật tuyệt đối, cụ thể: tên khách hàng; số điện thoại; địa chỉ email; địa chỉ cá nhân. Nội dung câu hỏi sẽ được sử dụng để phục vụ mục đích tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân và đăng tải trực tiếp trên hệ thống website để đảm bảo khách hàng có thể đọc trực tiếp. Để tránh những thông tin cá nhân hặc công ty Quý khách hàng nên viết tắt tên địa danh hoặc tên công ty để đảm bảo yếu tố bảo mật thông tin cá nhân: VD 1: Tôi muốn khởi kiện công ty TNHH An Bình tại số 11, khương hạ, Hà Nội. Quý khách nên viết rằng: Tôi muốn khởi kiện công ty AB tại Hà Nội. Xin lưu ý những thông tin khách hàng cho là nhậy cảm có thể yêu cầu luật sư biên tập lại nội dung xóa bỏ thông tin nhạy cảm đó.

Ngoài ra, để đảm bảo sự kết nối 24/7 giữa khách hàng và luật sư của Công ty luật Minh Khuê chúng tôi cũng cung ứng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Chính sách bản quyền về việc sử dụng dịch vụ:

Các Email tư vấn miễn phí sẽ được đội ngũ cộng tác viên, luật gia, chuyên viên tư vấn pháp luật của Công ty luật Minh Khuê tư vấn (Luật Minh Khuê trả phí để khách hàng được tư vấn miễn phí). Sau khi đội ngũ công tác viên, chuyên viên, luật ga, luật sư tư vấn sẽ được đội ngũ luật sư của Luật Minh Khuê kiểm duyệt nội dung. Để đảm bảo chính sách bảo mật thông tin khách hàng chỉ có đội ngũ luật sư điều hành của công ty mới có thể biết các nội dung cá nhân như: Tên khách hàng/Email/Số điện thoại/Địa chỉ. Các thông tin đội ngũ cộng tác viên, chuyên gia pháp lý, luật sư nhận được chỉ là nội dung câu hỏi đơn thuần (Không có thông tin định danh).

Câu hỏi sau khi được biên tập sẽ loại bỏ toàn bộ thông tin cá nhân và đăng tải trên hệ thống website dưới dạng tình huống để góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân và nhằm giảm thiểu những câu hỏi lặp đi, lặp lại trên hệ thống tư vấn miễn phí của chúng tôi.

Chính sách tư vấn pháp luật miễn phí qua email là một trong những giải pháp tri ân khách hàng của Luật Minh Khuê. Chúng tôi mong muốn sẽ là một kênh tư vấn chính thống, nhanh và uy tín cho cộng đồng mạng.

2. Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật tính phí và biểu tính phí dịch vụ tư vấn luật qua email.

Hàng ngày chúng tôi nhận được từ 200-300 câu hỏi của Quý khách hàng trên mọi miền của tổ quốc với nội dung rất đa dạng và mức độ khó dễ khác nhau. Chúng tôi luôn cam kết trả lời tất cả mọi câu hỏi của Quý khách hàng hoặc gửi tài liệu qua email những tình huống pháp lý tương tự để khách hàng trao đổi. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu thực tế rất nhiều khách hàng mong muốn được trả phí để được trả lời chi tiết, cụ thể, chính xác và nhanh nhất hoặc rất nhiều quý khách mong muốn luật sư soạn thảo đơn từ, hợp đồng... để tiện lợi cho khách hàng sử dụng trong quá trình thực tiễn.

Để đáp ứng yêu cầu này, từ ngày 01/08/2015 Công ty luật Minh Khuê chính thức cung ứng dịch vụ tư vấn pháp luật trả phí qua email với 02 mức cụ thể như sau (Hình thức này không thay thế hình thức trả lời miễn phí):

STT

TƯ VẤN PHÁP LUẬT

MIỄN PHÍ

TƯ VẤN LUẬT TRẢ PHÍ

(199.000 VNĐ/01 câu hỏi)

TƯ VẤN LUẬT TRẢ PHÍ

(500.000 VNĐ/1 câu hỏi, gồm soạn đơn tư)

Thời gian trả lời

Từ 7 - 15 ngày làm việc

1-2 ngày làm việc Chỉ trong 1 ngày làm việc
Mức độ chính xác Chỉ có giá trị tham khảo Có giá áp dụng thực tiễn cao Có giá trị sử dụng ngay trên thực tế
Chất lượng luật sư tư vấn Luật sư dưới 2 năm kinh nghiệm Luật sư từ 2-5 năm kinh nghiệm Luật sư trên 5 năm kinh nghiệm

(Mức phí trên chưa bao gồm 10 VAT đối với khách hàng có nhu cầu viết hóa đơn đỏ)

Hình thức thanh toán phí dịch vụ:

Vô cùng giản đơn, Quý khách hàng có thể sử dụng internet banking để chuyển khoản bằng VISA đến trực tiếp tại khoản của công ty luật Minh Khuê, hoặc có thể thanh toán thông qua Ví Ngân lượng. Hình thức thanh toán đã được chúng tôi gợi ý và hướng dẫn cụ thể nếu quý khách lựa chọn phương thức trả phí. Mọi vướng mắc về vấn đề thanh toán vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận hỗ trợ thông qua số: 043-9916057 chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ 24/7 mọi yêu cầu của Quý khách hàng.

Chính sách bảo hành và hậu mãi:

Đây là một trong những dịch vụ pháp lý mới mà công ty luật Minh Khuê đầu tiên cung cấp trên thị trường tư vấn pháp luật tại Việt Nam. Chúng tôi cam kết:

- Cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chất lượng tới mọi khách hàng;

- Thái độ phục vụ ân cần, chuyên nghiệp;

- Lợi ích của khách hàng là ưu tiên số 1 trong chính sách phục vụ của Chúng tôi;

- Cam kết hoàn trả lại phí dịch vụ nếu khách hàng khiếu nại về chất lượng ( Vui lòng gửi kiếu nại hoặc than phiền về chất lượng dịch vụ đến trực tiếp luật sư điều hành của chúng tôi: Ông Lê Minh Trường, Email: truong@luatminhkhue.vn để được giải quyết nhanh chóng và kịp thời).

Mong luật sư giúp tôi giải đáp thắc mắc : Theo luật hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn người trực tiếp nuôi con k được ngăn cản người không trực tiếp thăm nom, chăm sóc, giáo dục con cái... Nhưng về việc đón con đi hay đưa con đi thì trong luật không có quy định nào. Vậy nếu như tôi là người trực tiếp nuôi con, tôi không đồng ý cho người không trực tiếp nuôi con đón con đi ( nhất là đi qua đêm vì con tôi còn nhỏ( 15 tháng tuổi) ) thì tôi có bị coi là vi phạm pháp luật hay không ?

Luật HNGĐ 2014 quy định về vấn đề nuôi con sau ly hôn như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo đó, Pháp luật không quy định về thời gian thăm nom con, nhưng quy định taỊ Khoản 1 Điều 83 về việc tôn trọng quyền được nuôi con. Theo đó, con bạn mới 15 tháng tuổi, còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của mẹ, nhất là ban đêm, thì bạn có quyền yêu cầu việc không được đưa đón con đi qua đêm để bảo vệ sức khỏe của con. Pháp luật cũng không cấm điều này.

Thưa Luật sư, vợ chồng em ly thân đã gần 1 năm nay, trong thời gian ly thân, chồng em vi phạm pháp luật và bị bắt tạm giam. Con trai của em vì thế được bên bố mẹ chồng nuôi dưỡng, em thì đi làm hàng tháng vẫn gửi tiền về để chu cấp cho con. Vậy nếu bây giờ em đón con về để chăm sóc có được hay không? Em xin cảm ơn.

Trên thực tế, hiện tượng ly thân diễn ra rất nhiều, nhưng trong các văn bản pháp luật không quy định về việc ly thân này, trên nguyên tắc, các bạn vẫn là vợ chồng của nhau và chịu trách nhiệm trước pháp luật về cuộc hôn nhân của mình. Theo đó, bạn là mẹ của con bạn, bạn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ các quyền và nghĩa vụ khi làm mẹ.

Khoản 1 Điều 71 Luật HNGĐ quy định như sau:

Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

3. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.

Như vậy, bạn là mẹ của con bạn, nên bạn có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con mình, vì vậy, bạn có thể đón con về ở cùng mình để chăm sóc trong thời gian chồng bạn bị tạm giam là đúng theo quy định pháp luật và không ai có thể ngăn cản quyền lợi này của bạn.

Chao luật sư , tôi có một việc nhờ ls tư vấn Tôi có đứa em đã có con với một việt kiều canada, nhưg sau khi về nước anh ấy chối bỏ quyền và trách nhiệm nuôi con, nay Em gái tôi muốn kiện anh ấy đễ đòi quyền và nghỉa vụ cấp dươxng cho con có đc ko ạ, và phải làm cách nào mong luật sư chỉ dẫn đễ em tôi đoi quyền lợi cho cháu Cám ơn ls nhiều nhé.

Pháp luật HNGĐ nước ta quy định như sau:

Điều 129. Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là công dân.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của người quy định tại khoản 1 Điều này là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú.

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 110 Luật HNGĐ cũng quy định như sau: " Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.". Như vậy, người bạn Việt Kiều Canada đó có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con bạn theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu anh ta trốn tránh nghĩa vụ thì bạn có thể khởi kiện lên Tòa án tại Việt Nam, yêu cầu anh ta thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trường hợp anh ta từ chối nhận con để không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bạn có thể yêu cầu xác nhận cha cho con như sau:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Với trường hợp của bạn, bạn và người đàn ông đó chưa đăng ký kết hôn đã chung sống với nhau như vợ chồng. Điều này vi phạm nguyên tắc chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bạn và người đàn ông đó có thể bị xử phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 48 Nghị định 67/2015/NĐ-CP.

Theo đó trường hợp cha không thừa nhận con phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định đồng thời căn cứ theo Điều 43 Luật dân sự 2005 và Điều 29 BLTTDS 2015 bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân tại địa phương xác định cha cho con mình để con bạn được nhận cha và yêu cầu anh ta thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con mình. Vậy nếu muốn xác định cha cho con bạn nên làm đơn đến TAND để được giải quyết:

Điều 43. Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con

1. Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó.

2. Người được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình không phải là cha, mẹ hoặc là con của người đó."

Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

6. Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

7. Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.

8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

9. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

11. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.\

Tuy nhiên, việc xác định cha cho con trong trường hợp này có yếu tố nước ngoài,nên sẽ áp dụng Điều 128 Luật HNGĐ như sau:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1, khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợp khác có tranh chấp”.

Như vậy, trong trường hợp này, người cha không nhận con, tức là có tranh chấp, vì vậy, Tòa án nhân dân sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp để xác định cha cho con của bạn.

Thưa luật sư, E có 1 trường hợp muốn hỏi luật sư mong luật sư tư vấn cho e. E có đứa e trai sn 1995. Năm ngoái có lấy vợ. Vợ sn tháng 11 năm 1998. Khi lấy đã có bầu 2 tháng. 2 bên gia đình thống nhất để cưới hỏi. Giờ con trai cũng được 9 tháng rồi ạ. 2 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau là do e trai e có nhắc vợ đi ra ngoài phải biết mồm miệng chào mọi người. Vợ không nghe nên cãi nhau. Và người vợ bảo với chồng là sẽ bỏ nhau không ở được nữa sợ sau sẽ khổ. Khi đi thì cũng không đón con cũng khong hỏi thăm con. Vợ đã về nhà ngoại được 3 ngày. Hôm qua có về đòi con. E trai e không cho mang con đi. Nói là sẽ nuôi con nếu bỏ nhau. E dâu có nhắn tin bảo là nếu không trả con sẽ kiện đi tù. Vì khi cưới nó chưa đủ tuổi ạ. E muốn hỏi nếu có kiện thì theo luật e trai e có được quyền nuôi con không và nếu bị xử phạt thì phạt vì tội gì và phạt như thế nào. E xin cảm ơn luật sư. ( cháu e sinh 21/12/2015 và cháu không bú mẹ. Chỉ ăn sữa ngoài ạ)

Điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ quy định điều kiện kết hôn như sau:

"a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;". Như vậy, khi em trai bạn kết hôn là vào năm 2015, khi đó em dâu bạn mới 17 tuổi, chưa đủ tuổi kết hôn. Theo đó,

"1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý."

Như vậy, pháp luật không thừa nhận quan hệ vợ chồng của em trai bạn.

Theo quy định pháp luật người nào có hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính: Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định về hành vi tảo hôn và tổ chức tảo hôn như sau: “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn;

Như vậy, nếu như em dâu bạn tiến hành khởi kiện thì Em trai bạn sẽ bị phạt vi phạm hành chính, ngoài ra, nếu có yêu cầu từ em dâu thì Tòa án sẽ hủy việc kết hôn trái pháp luật đó, như sau:

Điều 11. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

3. Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, về mặt pháp luật, em trai em vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con của mình. Nếu như em dâu bạn không thừa nhận em trai là con của đứa bé thì em trai bạn có thể yêu cầu Tòa án xác định cha cho con như sau:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Sau khi đã chứng minh được em trai bạn là cha của đứa bé, khi đó, em trai bạn sẽ có các quyền đối với con mình Về nguyên tắc, do không đăng ký kết hôn nên tòa không xử ly hôn mà chỉ giải quyết việc nuôi con và tài sản (nếu có). Theo quy định chung thì con dưới 3 tuổi giao mẹ nuôi, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Tòa án sẽ kết hợp xem xét giao bên nào đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự nuôi dưỡng và phát triển của đứa bé. Phán quyết của tòa án là căn cứ pháp lý xác định người trực tiếp nuôi con. Mọi tranh chấp liên quan đến con cái như bạn nêu, nếu không thỏa thuận được thì chỉ tòa án có thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, nếu như em trai bạn chứng minh được sẽ tạo điều kiện tốt hơn cocon khi ở với mẹ thì Tòa án sẽ giao quyền nuôi con cho em ai bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn về quyền nuôi con sau ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Giành quyền nuôi cả 3 đứa con sau khi ly hôn ? Thủ tục xin ly hôn vắng mặt ?

2. Tòa án có chia cho mỗi người nuôi một con khi ly hôn không ?

Kính chào luật sư, Em có một số điều muốn nhờ luật sư tư vấn giúp. Hiện giờ em muốn ly hôn chồng nhưng chồng em đã để đâu mất 1 tờ giấy đăng kí kết hôn. Hiện tại em chỉ còn có 1 bản chính duy nhất thì có thể ly hôn được không ạ. Vấn đề thứ 2 là e có 2 cháu 1 cháu giờ sắp 8 tuổi 1 cháu 2 tuổi giờ ly hôn là tòa sẽ chia đôi con phải không ạ ?
Em cảm ơn!

Chồng có quyền đưa đón, thăm nom con sau khi ly hôn không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về hồ sơ khi chị muốn đơn phương ly hôn thì chị cần chuẩn bị những loại giấy tờ sau :

+ Đơn xin ly hôn (Tham khảo: Tải mẫu đơn xin ly hôn)

+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính, của nguyên đơn và bị đơn).

+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

+ Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

Trong trường hợp này chị có nói rằng chị còn một tờ giấy đăng ký kết hôn bản gốc vậy thì khi ly hôn chị sẽ nộp các tờ giấy đăng ký kết hôn là bản chính này lên cho Tòa án.

Về vấn đề con chung của hai vợ chồng thì theo quy định tại điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Căn cứ vào quy định này thì con đủ 8 tuổi sẽ hỏi ý kiến của cháu xem cháu muốn ở với ai thì Tòa sẽ xem xét nguyện vọng của cháu. Còn cháu dưới 2 tuổi sẽ đương nhiên thuộc quyền nuôi con của người mẹ, trừ trường hợp người mẹ không có đủ điều kiện nuôi con hoặc hai vợ chồng chị có thỏa thuận khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tài sản chung vợ chồng được chia như thế nào khi ly hôn đơn phương ?

>> Xem thêm:  Nộp đơn xin ly hôn tại nơi tạm trú có được không ? Thủ tục thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn ?

Thưa Luật sư. Tôi và chồng lấy nhau được 6 năm và có 2 cháu, vì chồng tôi ham mê cờ bạc không lo làm ăn nên tôi quyết định ly hôn. Đơn ly hôn chồng tôi không chịu ký nhưng bảo tôi cứ đơn phương ly hôn tòa gọi anh ấy sẽ đồng ý vì cũng không muốn làm khổ tôi nữa. Tài sản của chúng tôi là đất vườn của bố mẹ chồng để lại và mang tên của anh ấy. Anh ấy nói sẽ để lại tất cả tài sản cho 3 mẹ con chúng tôi. Vợ chồng chúng tôi thống nhất bán bớt 10m đất để trả nợ và anh ấy chỉ lấy một nửa số tiền đó còn lại tất cả đất sẽ cho 3 mẹ con tôi.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi thủ tục thỏa thuận tài sản giữa tôi và chồng như trên làm như thế nào thì hợp lý để không có rắc rối về sau? Và việc này thực hiên tại tòa hay chúng tôi tự thỏa thuận?
Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Khoản 1 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Như vậy, việc phân chia tài sản chung trước hết do bạn và chồng bạn tự thỏa thuận, nghĩa là văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng bạn khi ly hôn là do hai bên tự thỏa thuận. Sau đó, bạn mang văn bản này đến Văn phòng công chứng tư nhân nơi có đất hoặc Phòng công chứng thuộc UBND huyện nơi có đất để công chứng văn bản này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Gia đình tìm mọi biện pháp để ngăn cản kết hôn và cưỡng ép ly hôn thì nên làm như thế nào ?

4. Tư vấn về việc phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có thắc mắc mong được giải đáp: Năm 1990, ông Nguyễn Anh Quang (1962) kết hôn với bà Đỗ Thị Vân (1964) , hai bên không đăng ký kết hôn. Ông Quang có con với người vợ đầu (đã mất trước khi ông kết hôn lần 2) là chị Nguyễn Thị Thắm (1983) . Năm 1991, bà Vân và ông Quang sinh anh Nguyễn Thanh Quỳ (hiện nay đã có việc làm).

Năm 2004, họ có thêm một người con gái nữa là Nguyễn Anh Thư, Thư có biểu hiện của trẻ thiểu năng trí tuệ nhưng chưa có xác nhận cụ thể của cơ quan y tế, hiện đang học lớp 3. Trong quá trình chung sống, ông Quang thường xuyên bạo hành bà Vân, không thể hiện trách nhiệm làm cha. Hai bên từng chấm dứt nhưng không thành do bà Vân thương con sinh thiếu tháng yếu (anh Quỳnh) nên hi sinh ở lại. Năm 2006, ông Quang và bà Vân chấm dứt hẳn do ông Quang ngoại tình, bé Thư mới được 2 tuổi. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra quyết định cho hai bên chấm dứt, tài sản tự thỏa thuận:
- Tổng tài sản bao gồm:
+ Một căn nhà cấp 4 diện tích 300 m2
+ 4.200 m2 đất thổ cư
+ 18.500 m2 đất canh tác
- Cách thức phân chia tài sản:
+ Ông Quang sở hữu: 2.000 m2 đất thổ cư; 13.000 m2 đất canh tác
+ Bà Vân sở hữu: căn nhà cấp 4 diện tích 300 m2 và 700 m2 đất thổ cư; 5.500 m2 đất canh tác
+ Chị Thắm: Ông Quang, bà Vân thỏa thuận bằng văn bản đồng ý chia 1.500 m2 đất thổ cư cho chị, nhưng đến nay ông Quang vẫn chưa ký kết chuyển giao cho chị.
- Các khoản nợ chia theo tỉ lệ: 1:1
- Trách nhiệm:
+ Ông Quang có trách nhiệm chi trả sinh hoạt phí cho bé Thư: 300.000 VNĐ/1 tháng (đến đủ 18 tuổi)
+ Bà Vân chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng anh Quỳnh và bé Thư
- Quá trình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ:
+ Từ ngày phán quyết của Tòa án có hiệu lực, bà Vân vẫn đơn thân nuôi hai con ăn học mà không nhận được sự hỗ trợ như đã cam kết từ ông Quang.
+ Số tài sản của ông Quang giao cho chị Thắm quản lý. Lúc này chị Thắm đã có gia đình, đám cưới được tổ chức dưới sự hộ trợ của bà Vân
+ Năm 2010 đến này, dưới áp lực từ phía bà Vân do chi phí sinh hoạt, học tập ngày càng tăng, ông Quang đồng ý giao số tài sản chị Thắm quản lý cho bà Vân canh tác, lấy hoa lợi trang trải chi phí ( thỏa thuận không mang tính pháp lý)
- Tôi muốn biết:
1. Sự việc có còn thời hạn khiếu kiện hay không? Nếu còn hiệu lực là trong bao lâu? Có thể khởi kiện trên những hành vi cụ thể nào? Và cách thức tiến hành ra sao?Dựa trên những quy chuẩn nào?
2. Nếu ông Quang bán đất, cho tặng, cầm cố, thế chấp tài sản phần tài sản của ông hoặc sang tên phần tài sản đã cho chị Thắm. Anh có thể khiếu kiện đòi phân chia tài sản, lợi ích hoặc vô hiệu hóa các hoạt động trên không? Nếu có, cách thức tiến hành cụ thể ra sao?Theo điều luật nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nam

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014quy định:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Cụ thể: Vợ chồng có trách nhiệm liên đới trong các trường hợp sau:

- Giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

- Các giao dịch phù hợp về đại diện theo quy định của pháp luật

- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

Theo các quy định đó, sau khi ly hôn, anh, chị không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà anh, chị yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Ngoài ra, theo Điều 60 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba sau lý hôn:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

Theo quy định tại điều 47, 48 Luật HN&GĐ năm 2014:

"Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định."

Do vậy, trong trường hợp này anh chị khi thỏa thuận về chế độ tài sản giữa hai vợ chồng thì trước khi kết hôn, việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và phải có công chứng, chứng thực. Và thỏa thuận này có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 do vi phạm quy định về hình thức của thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng:

"Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;"

Theo khoản 2 điều 122 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức của giao dịch dân sự:

"2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Theo quy định tại điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:
"Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình."

Do đó, trong trường hợp này, việc mua mua sắm và phần ngôi nhà anh sửa khi hai vợ chồng chung sống với nhau được coi là tài sản chung và sẽ áp dụng theo chế độ đối với tài sản chung theo điều 33 Luật HN&GĐ:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 59 Luật HN&GĐ về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Trong câu hỏi trên muốn giải quyết được tranh chấp pháp sinh thì phải giải quyết được vấn đề nguồn gốc hình thành tài sản thì mới có thể phân chia, giải quyết cụ thể. Các bên có thể chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản để xác minh tài sản nào là riêng/Chung. Thực tiễn cho thấy rằng đây là một vấn đề không hề đơn giản và dễ dàng. Chúng tôi đưa ra những nguyên tắc pháp lý cơ bản để các bên tham khảo và vận dụng. Không thể đưa ra kết luận một chiều khi chưa có đầy đủ thông tin chính xác.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có bầu 3 tháng, chồng có thể ly hôn được không ? Nộp đơn ly hôn ở đâu ?

5. Tư vấn chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Mẹ em và ông T lấy nhau được 6 năm, mẹ em có 3 mảnh đất là tài sản riêng, nhưng là đất vườn. Sau 1 thời gian lấy ông T, mẹ em mới chuyển đất này sang đất ở. Vậy thì mảnh đất ấy sẽ là tài sản riêng hay tài sản chung? Và khi mẹ em và ông T li dị thì tài sản này của mẹ em phải chia đôi hay không ?
Em xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Theo quy định của điều luật trên, tài sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn thì được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng. Theo phần trình bày của bạn, để xét xem mẹ bạn có phải chia quyền sử dụng mảnh đất đó vối ông T sau khi ly hôn thì còn phải xác định được xem: trong quá trình hôn nhân mẹ bạn có tiến hành thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung hay không (có thể trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì mẹ bạn có đồng ý để chồng cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới), và khoản tiền sử dụng đất để trả khi mẹ bạn chuyển đổi mục đích này là tiền riêng của mẹ bạn, hay là tiền chung của mẹ bạn và ông T. Nếu mẹ bạn không tiến hành nhập tài sản riêng vào tài sản chung, và tiền sử dụng đất mà mẹ bạn trả là tiền riêng của mẹ bạn, thực hiện thủ tục hoàn toàn độc lập thì đây được xét là tài sản riêng của mẹ bạn, và không phải chia cho ông T nếu ly hôn. Và ngược lại, nếu mẹ bạn nhập phần đất trên vào tài sản chung thì khi ly hôn, quyền sử dụng phần đất sẽ được chia đôi nhưng còn dựa trên một số yếu tố theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tại sao phải hòa giải khi Ly Hôn ? Không hòa giải có được không ?