1. Tư vấn về quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn ?

Chào luật sư, tôi có vấn đề này còn thắc mắc, rất mong được sự tư vấn, giúp đỡ của luật sư : Ly hôn vợ tôi hạn chế quyền thăm con của tôi. Ngoài ra cô ấy còn đổi cả họ của cháu mà không cho tôi hay. Xin hỏi luật sư như vậy cô ấy có vi phạm luật không và tôi phải làm sao mới có thể thăm cháu được ?
Rất mong luật sư giải đáp cho tôi rõ, xin cảm ơn luật sư.

Tư vấn về quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về quyền thăm con chung, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, việc người vợ (trực tiếp nuôi con) hạn chế quyền thăm nom của người cha (người không trực tiếp nuôi con) có vi phạm pháp luật,căn cứ:

- Theo Điều 82, Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Theo Điều 83, Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

1.Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định về nghĩa vụ của cha mẹ; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2.Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Theo quy định tại Điều 81, Luật hôn nhân gia đình 2014 cũng quy định:

Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Đây là quyền lợi cũng là nghĩa vụ về nhân thân, mang tính bắt buộc của bậc làm cha mẹ.

Theo đó, người trực tiếp nuôi con nếu gây khó, cản trở người kia đến thăm con; hoặc người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con đều là hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ hai,trường hợp bạn muốn tiếp tục thăm nom cháu,có thể căn cứ :

- Việc Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau cũng là hành vi bạo lực gia đình theo quy định tại Điều 2, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007.

Khi bị một bên cản trở quyền thăm nom con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp chăm sóc con có thể thực hiện như sau:

1, Nhờ tổ trưởng dân phố chứng kiến và xác nhận vào đơn về việc có đến thăm nom nhưng người kia gây khó khăn, cản trở.

2, Đến trường làm đơn xác nhận, xin sao chụp hồ sơ học bạ, sổ liên lạc… để minh chứng tình trạng sức khỏe, hạnh kiểm và học lực của con

3, Làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án giải quyết cho thi hành vấn đề thăm nom, chăm sóc con chung theo án Tòa.

Sau đó, cơ quan Thi hành án mời các bên đến làm việc, người trực tiếp chăm sóc sẽ cam kết về việc tạo mọi điều kiện cho người kia được thăm con, không gây khó nữa. Nội dung này được ghi vào biên bản, có ký tên đóng dấu của cơ quan thi hành án.

Nhưng nếu người trực tiếp chăm sóc con không thực hiện đúng những gì đã thỏa thuận thì bên không trực tiếp chăm sóc được quyền gửi đơn đến Tòa án xin thay đổi người trực tiếp nuôi con. Với những chứng cứ và quy trình đã làm, Tòa án có thể chấp nhận yêu cầu của người nộp đơn, quyết định cho thay đổi người nuôi con một cách thuyết phục.

Nếu người nuôi con không thi hành việc cho thăm con thì người kia có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp không tự nguyện thi hành, có thể bị cưỡng chế thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung 2014.

- Theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó Điều 53 quy định về Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau:

''Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.''

Như vậy, nếu người nuôi con cố tình ngăn cản việc thăm nuôi con của người còn lại sau khi ly hôn thì bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính từ 100.000đ – 300.000đ .

Thứ ba,việc người vợ đổi họ cho con mà không hỏi ý kiến người cha cũng là vi phạm pháp luật,căn cứ :

- Theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật dân sự 2015 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

Điều 27. Quyền thay đổi họ

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;

b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;

d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;

đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;

g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;

h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.

- Ngoài ra, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã cho phép một số trường hợp được thay đổi, cải chính liên quan đến hộ tịch, trong đó bao gồm thay đổi họ, tên, chữ đệm đã đăng ký trong giấy khai sinh khi cá nhân có yêu cầu thay đổi với lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

- Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Theo đó, cả vợ và chồng đều có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với con của mình kể cả khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Vì vậy, việc yêu cầu đổi họ tên cho con theo yêu cầu của một bên là vợ hoặc chồng đều phải được sự đồng ý của bên còn lại.

Như vậy,trường hợp của bạn,việc người vợ hạn chế quyền thăm nom của bạn là vi phạm pháp luật và người vợ tự ý thay đổi họ của người con chưa thông qua sự đồng ý của bạn thì người vợ tiếp tục vi phạm pháp luật.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chia tài sản khi ly hôn cho những ai ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Mong Luật sư tư vấn cho tôi về vấn đề ly hôn. Chúng tôi có 1 căn nhà và 1 lô đất nhưng chưa sang tên quyền sử dụng đất vì khi mua đất chỉ có giấy tờ viết tay chưa có công chứng, đất này là đất nông nghiệp thuộc quy hoạch nên vợ chồng tôi xây nhà chỉ làm được sổ tạm trú (KT3) thôi.

Vậy khi ly hôn nếu chúng tôi không thỏa thuận phân chia tài sản này được, muốn nhờ tòa phân chia được không? Nếu vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và chỉ có vợ chồng ký với nhau thì thỏa thuận đó có hợp pháp khi ra tòa không? Tài sản nhà và đất này chỉ chia cho vợ chồng thôi hay chia làm 5 phần cho vợ, chồng và 3 con? Về nhà và đất chung chồng tôi muốn bán còn tôi muốn giữ vậy tôi đưa tiền cho chồng ( với số tiền là phần của chồng trừ đi khoản nợ mà tôi mượn cho chồng) để giữ lại vậy có được không ?(chồng tôi muốn bán cho người ngoài). Chồng tôi muốn tôi ký vào đơn ly hôn nếu sau khi ly hôn mà sau này tôi đi lấy chồng mới hoặc chết thì tài sản hiện tại (tài sản theo thỏa thuận phân chia tài sản và tiền mặt trong tài khoản của tôi) phải được phân chia làm 4 phần bằng nhau cho tôi và 3 con và chồng tôi có quyền nuôi hết 3 con vậy cho tôi hỏi trong luật thì điều này có được không?

Chân thành cảm ơn!

Xin ly hôn khi bên chồng có lời lẽ xúc phạm nặng nề đến danh dự nhân phẩm ? Chồng tôi không chịu ly hôn thì tôi phải làm sao ?

Luật sư tư vấn trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, nếu hai vợ chồng bạn không thể tự mình giải quyết được việc phân chia tài sản thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết khi ly hôn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật HNGĐ:

"Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật."

Đối với loại tài sản đăng kí quyền sở hữu như nhà, đất, ngoài việc lập thành văn bản việc phân chia, cả hai bên cùng kí vào thì phải tiến hành công chứng tại Phòng Công chứng cấp huyện. Như vậy, việc vợ chồng bạn chỉ kí vào văn bản phân chia với nhau thôi là chưa đủ căn cứ pháp lý để tòa án công nhận nếu sau này có tranh chấp xảy ra.

Đây được xếp vào loại tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng, do đó, khi ly hôn, tài sản này chỉ được chia cho hai vợ chồng bạn mà thôi.

Về tài sản là căn nhà do vợ chồng bạn cùng xây dựng sẽ được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ như sau:

"Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch." Căn cứ vào quy định này, việc chồng của bạn muốn bán lại phần tài sản là nhà đất cho người khác thì người được ưu tiên mua ở đây là bạn.

Về thông tin mà bạn cung cấp: "Chồng tôi muốn tôi ký vào đơn ly hôn nếu sau khi ly hôn mà sau này tôi đi lấy chồng mới hoặc chết thì tài sản hiện tại (tài sản theo thỏa thuận phân chia tài sản và tiền mặt trong tài khoản của tôi) phải được phân chia làm 4 phần bằng nhau cho tôi và 3 con và chồng tôi có quyền nuôi hết 3 con." Theo chúng tôi hiểu đây là điều kiện để chồng của bạn ký vào đơn ly hôn. Đây là một thỏa thuận trái pháp luật và không được pháp luật công nhận bởi vì theo quan điểm của pháp luật Việt Nam không coi hôn nhân là một loại giao dịch tài sản và ly hôn cũng vậy.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Chồng tôi không chịu ly hôn thì tôi phải làm sao ?

Thưa luật sư, tôi đã nộp đơn ly hôn tại tòa án quận nơi chồng tôi sống. Sau khi làm đầy tháng cho con tôi xong bên chồng có lời lẽ xúc phạm nặng nề đến danh dự nhân phẩm của tôi nên cha tôi xin rước tôi về và trả lại 6 chỉ vàng cưới vì ba mẹ chồng đòi lại. Từ đó đến nay đã hơn 1 năm bên chồng không ai quan tâm thăm hỏi mẹ con tôi nữa.
Chồng tôi cũng hờ hững không sống chung với tôi mà ở với ba mẹ anh ấy. Tôi đi được vài tháng đầu thì chồng tôi còn tới lui sau đó chồng tôi cá độ đá banh nên gây nợ bán xe chung mà hai vợ chồng mua và không quan tâm tới mẹ con tôi nữa. Tôi thấy cuộc sống của hai vợ chồng không còn hạnh phúc nên tôi muốn ly hôn. Tôi có nói cho chồng biết nhưng anh ta không trả lời gì hết. Vậy khi tôi đơn phương ly hôn không chanh chấp tài sản gì thì thời gian có rút ngắn không, con tôi mới 16tháng tôi được quyền nuôi con phải không. Khi chồng tôi không chịu ly hôn thì tôi phải làm sao ?
Xin luật sư tư vấn. Tôi xin chân thành cám ơn.
- Nguyễn Thi Hân

Luật sư trả lời:

Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Trong trường hợp ly hôn đơn phương, là khi ly hôn xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng thì chỉ khi người nộp đơn xin ly hôn chứng minh được việc ly hôn có căn cứ thỏa mãn các điều kiện của pháp luật thì mới được tòa án chấp thuận ra quyết định ly hôn.

Theo thông tin của bạn đã cung cấp, chúng tôi hiểu rằng: Bên chồng bạn có những lời lẽ xúc phạm tới bạn, còn chồng bạn thì cá độ không lo lắng cho vợ con, nhiều lần hai vợ chồng mâu thuẫn dẫn tới tình trạng hôn nhân không được như ý. Vì vậy bạn muốn đơn phương ly hôn. Trường hợp của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến như sau:

Căn cứ Khoản 1, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Và căn cứ tại Khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về Ly hôn theo yêu cầu của một bên thì :

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Như vậy, bạn có quyền được đơn phương xin ly hôn, không phụ thuộc vào việc chồng của bạn có đồng ý hay không, theo những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi hiểu rằng bạn đang rất mong muốn đơn phương ly hôn, tuy nhiên chỉ cần có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài hoặc mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho bạn.

Về thủ tục ly hôn đơn phương:

Hồ sơ ly hôn, gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con ( nếu có, bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn đơn phương (Theo mẫu)

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của người ký đơn xin ly hôn.

+ Về giấy đăng kí kết hôn: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi anh đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

Về việc giành quyền nuôi con khi ly hôn được quy định trong điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Khi ly hôn, nếu hai bên vợ chồng thỏa thuận được về vấn đề nuôi con thì tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó. Nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Theo nguyên tắc, con dưới 36 tháng do người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Trường hợp này, theo thông tin mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi thì con của bạn dưới 36 tháng tuổi thì bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con (căn cứ Khoản 3, Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014).

- Thời gian giải quyết ly hôn đơn phương:

+ Thụ lý đơn ly hôn (đơn khởi kiện): Sau khi nhận được đơn từ nguyên đơn, Tòa án phải xem xét có thụ lý đơn hay không. Nếu hồ sơ hợp lệ thì Tòa án gửi thông báo cho nguyên đơn đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án ra quyết định thụ lý đơn ly hôn đơn phương từ thời điểm nguyên đơn nộp biên lai đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gưi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Điều 195. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Như vậy, nếu hai bạn không có tranh chấp về tài sản thì tòa án vẫn giải quyết theo thời gian quy định của pháp luật và bạn có thể giành quyền nuôi con.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tặng cho vợ nhà ở thì khi ly hôn sẽ chia tài sản đó như thế nào?

Thưa luật sư, Xin hỏi văn phòng luật sư.trong thời kì hôn nhân.tôi có làm thủ tục cho tặng vợ tôi căn nhà mà 2 vợ chồng đang ở để giảm tiền thuế sang tên bìa đỏ. vậy khi ly hôn thì tài sản đó chia thế nào ?
Xin cảm ơn !
Người gửi: T.Q

Tặng cho vợ nhà ở thì khi ly hôn sẽ chia tài sản đó như thế nào?

Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Điều 59, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Nếu anh tặng cho tài sản là căn nhà cho vợ anh thì tài sản đó được coi là tài sản riêng của vợ anh nếu tái sản đó không nhập vào tài sản chung của 2 người. Khi ly hôn, về nguyên tắc thì nếu anh chị không có thỏa thuận khác thì căn nhà là của vợ anh do đó là tài sản riên mà chị được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Chia tài sản theo công sức đóng góp khi ly hôn ?

Trả lời:

Trước hết cần xem xét ngôi nhà này là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Điều 33 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Nếu ngôi nhà của bác bạn được hình thành trong thời kì hôn nhân hoặc là tài sản riêng nhưng đã thỏa thuân nhập vào tài sản chung của vợ chồng thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được xử lý theo quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 59 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau :

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Nếu ngôi nhà này của bác gái bạn hình thành trước thời kì hôn nhân thì tài sản đó là tài sản riêng của bác gái bạn, theo quy định của pháp luật thì sau khi ly hôn tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của bác gái bạn. Khoản 4 điều 59 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”

Như vậy, tùy thuộc vào khối tài sản đó là tài sản chung, tài sản riêng hay sự thỏa thuận của các bên mà tài sản sẽ được chia theo các huớng khác nhau. Vì vậy bác gái bạn cần phải xem xét kĩ lưỡng để có thể đảm bảo được quyền lợi của mình.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?