1. Cảng biển, cảng vụ hàng hải là gì?

Theo Khoản 1 của Điều 73 trong Bộ Luật Hàng Hải của Việt Nam năm 2015, cảng biển được xác định là một khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị để phục vụ việc cập bến, rời cảng của tàu thuyền, vận chuyển hàng hóa, tiếp đón và trả khách, cũng như thực hiện các dịch vụ khác.

Cảng biển có thể bao gồm một hoặc nhiều bến cảng, và mỗi bến cảng có thể có một hoặc nhiều cầu cảng.

Theo Điều 91 của Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam 2015, cảng vụ hàng hải được xác định như sau:

- Cảng vụ hàng hải là một cơ quan trực thuộc cơ quan quản lý hàng hải của nhà nước, chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực hàng hải tại cảng biển và trong khu vực quản lý được giao.

- Người đứng đầu của cảng vụ hàng hải, có tư cách là Giám đốc Cảng vụ hàng hải, là người có thẩm quyền cao nhất và chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của cảng vụ hàng hải.

Vùng nước cảng bao gồm khu vực được xác định để tạo ra các phạm vi như vùng trước cầu cảng, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, luồng hàng hải, và xây dựng các công trình phụ trợ khác.

Cảng biển có vai trò hết sức quan trọng - động lực phát triển kinh tế biển nói riêng, kinh tế đất nước nói chung. Đây là cửa ngõ giao thương hàng hóa xuất, nhập khẩu, đầu mối chuyển đổi phương thức vận tải đường biển sang vận tải đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa. Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, đảo và phát triển kinh tế biển, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược quy hoạch, xây dựng, phát triển cảng biển.

2. Yêu cầu đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nước cảng biển mới?

Theo Điều 62 của Nghị định 58/2017/NĐ-CP, quy định về hoạt động tàu thuyền trong vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải như sau:

- Tàu thuyền chỉ được thực hiện các hoạt động như neo đậu, di chuyển vị trí, cập cầu, cập mạn hoặc các hoạt động tương tự khác trong vùng nước cảng biển và luồng hàng hải khi có sự ra lệnh điều động hoặc được sự chấp thuận của Giám đốc Cảng vụ hàng hải. Lệnh điều động do Giám đốc Cảng vụ hàng hải ban hành phải được thực hiện ngay lập tức, chính xác và đầy đủ. Trong trường hợp không thể thực hiện lệnh, thuyền trưởng có trách nhiệm báo cáo cho Cảng vụ hàng hải để xử lý.

- Khi hoạt động trong vùng nước cảng biển và biển Việt Nam, ngoài việc tuân thủ Quy tắc phòng ngừa va chạm trên biển, thuyền trưởng còn phải thực hiện các quy định sau:

+ Duy trì liên lạc với Cảng vụ hàng hải thông qua VHF (Máy bộ đàm hàng hải) hoặc các thiết bị liên lạc khác.

+ Duy trì hoạt động của thiết bị nhận dạng tự động theo quy định.

+ Tuân thủ đầy đủ các quy định về tốc độ di chuyển trên luồng, dấu hiệu cảnh báo, chế độ cảnh giới và các quy định khác. Phải di chuyển một cách an toàn khi đi qua khu vực có hoạt động ngầm dưới nước, hoạt động nạo vét luồng, thả phao tiêu, trục vớt, cứu hộ, hoạt động ngư nghiệp hoặc khi đi qua khu vực có các tàu neo đậu, điều động.

+ Không được điều động tàu thuyền đi qua khu vực có cầu, đường dây vắt ngang qua luồng nếu chiều cao của tàu vượt quá giới hạn tĩnh. Hành trình trên luồng hẹp phải tuân theo quy định của Giám đốc Cảng vụ hàng hải. Máy neo và thiết bị tương tự của tàu phải luôn sẵn sàng để thực hiện mệnh lệnh của thuyền trưởng.

+ Không được kéo neo ngầm dưới nước khi hoạt động trong luồng, kênh đào, trừ khi có yêu cầu bắt buộc để đảm bảo an toàn hàng hải.

+ Chỉ được thực hiện các hoạt động lặn hoặc công việc ngầm dưới nước sau khi được chấp thuận bởi Cảng vụ hàng hải. Thủ tục xin phép bao gồm việc gửi đề nghị trực tiếp hoặc qua bưu chính đến Cảng vụ hàng hải theo mẫu số 35 được quy định trong Phụ lục của Nghị định 58/2017/NĐ-CP. Cảng vụ hàng hải phải có văn bản trả lời trước thời hạn làm việc 04 giờ kể từ khi nhận được đề nghị, và nếu không chấp thuận, phải nêu rõ lý do.

- Bên cạnh việc tuân theo các quy định tại Điều 62 của Nghị định 58/2017/NĐ-CP, thuyền trưởng hoặc người chỉ huy của tàu thuyền tham gia vào các công trình hàng hải như nạo vét luồng, khai thác cát, cần cẩu nổi và các thiết bị công trình khác phải đề nghị phép từ Cảng vụ hàng hải khu vực trước khi tiến hành hoạt động trong vùng nước cảng biển.

Thủ tục xin phép được thực hiện như sau: Người làm thủ tục gửi trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính đến Cảng vụ hàng hải một văn bản đề nghị, theo mẫu số 35 quy định trong Phụ lục được ban hành cùng với Nghị định 58/2017/NĐ-CP. Cảng vụ hàng hải phải cung cấp phản hồi trong khoảng thời gian làm việc 04 giờ kể từ khi nhận được đề nghị, và trong trường hợp không chấp thuận, phải nêu rõ lý do.

- Ngoài ra, trong trường hợp tàu thuyền chưa hoàn tất thủ tục nhập cảnh hoặc đã hoàn tất thủ tục xuất cảnh, tất cả những người trên tàu thuyền bị nghiêm cấm thực hiện các giao dịch với người không phải là thành viên thuyền bộ, trừ khi họ là hoa tiêu dẫn tàu, đại lý tàu biển hoặc các nhân viên công vụ đang thực hiện nhiệm vụ trên tàu thuyền.

3. Sử dụng tàu thuyền du lịch hoạt động trong vùng nước cảng biển khi chưa được phép bị xử phạt thế nào?

Dựa vào điểm d của khoản 5 Điều 33 của Nghị định 142/2017/NĐ-CP về vi phạm quy định về an toàn, an ninh, trật tự, vệ sinh trong các hoạt động liên quan đến tàu thuyền, các hành vi vi phạm sau đây sẽ bị áp dụng mức phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng:

- Điều động tàu thuyền vào hoặc rời cảng biển, cập cầu cảng mà không có thuyền trưởng ở buồng lái theo quy định.

- Tiến hành các hoạt động mò, lặn hoặc các công việc khác ngầm dưới nước trong vùng nước cảng biển khi chưa được phép bởi Cảng vụ hàng hải hoặc không thực hiện báo hiệu cảnh báo theo quy định.

- Tổ chức thi đấu thể thao hoặc các hoạt động tập trung nhiều phương tiện trong vùng nước cảng biển khi chưa có sự phê duyệt của Cảng vụ hàng hải.

- Sử dụng tàu thuyền thể thao hoặc du lịch trong vùng nước cảng biển khi chưa có phép của Cảng vụ hàng hải.

- Không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các báo hiệu theo quy định.

- Tàu thuyền không có thông tin rõ ràng về tên, số hiệu, số IMO, cảng đăng ký và vạch môn nước theo quy định.

- Không lắp đặt hoặc duy trì tình trạng kỹ thuật của thiết bị giám sát hành trình của tàu cao tốc hoặc lắp đặt mà không bật thiết bị giám sát hành trình theo quy định.

Ngoài ra, theo nguyên tắc xác định mức phạt tiền theo Nghị định 142/2017/NĐ-CP, mức phạt tiền của mỗi hành vi vi phạm hành chính áp dụng đối với cá nhân. Tuy nhiên, đối với tổ chức thực hiện cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền sẽ gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân.

Như vậy, khi sử dụng tàu thuyền du lịch hoạt động trong vùng nước cảng biển khi chưa có phép của Cảng vụ hàng hải có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, nếu một tổ chức tiến hành cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ là từ 16.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Bài viết liên quan:

Cảng biển, xác định tiêu chí phân loại cảng biển theo quy định pháp luật hiện hành

Quy định pháp luật về cảng biển, hợp đồng thuê tàu và cảng an toàn (safe port) trong hợp đồng thuê tàu theo chuyến

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề yêu cầu đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nước cảng biển mới. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm và đồng hành cùng chúng tôi!