1. Ai là người có thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức theo quy định?

Thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức được quy định theo Nghị định 112/2020/NĐ-CP, có sự điều chỉnh bởi khoản 10 Điều 1 Nghị định 71/2023/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

​- Cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.

​- Cơ quan quản lý công chức hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp thẩm quyền quản lý công chức sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 28 Nghị định này.

​- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật đối với công chức cấp xã. Trước khi tổ chức họp kiểm điểm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

- Người đứng đầu cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và thống nhất hình thức kỷ luật với cơ quan cử biệt phái. Trước khi quyết định hình thức kỷ luật, cần thống nhất với cơ quan cử biệt phái. Trong trường hợp kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc, quyết định này dựa trên đề xuất của Hội đồng xử lý kỷ luật, và cơ quan cử biệt phái sẽ ra quyết định buộc thôi việc. Hồ sơ, quyết định kỷ luật công chức biệt phái phải được gửi về cơ quan quản lý công chức biệt phái.

​- Thẩm quyền xử lý kỷ luật được thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức, trong trường hợp của công chức làm việc trong Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

Nghị định 71/2023/NĐ-CP quy định một số điều cụ thể như sau:

- Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.

- Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Người đứng đầu cơ quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp thẩm quyền quản lý công chức sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật, trừ trường hợp quy định khác.

- Đối với công chức cấp xã: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ thực hiện xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cần báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi tổ chức họp kiểm điểm theo quy định.

- Đối với công chức biệt phái: Người đứng đầu cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái sẽ thực hiện xử lý kỷ luật, thống nhất hình thức kỷ luật với cơ quan cử biệt phái trước khi quyết định hình thức kỷ luật. Trong trường hợp kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc, cơ quan cử biệt phái sẽ ra quyết định buộc thôi việc dựa trên đề xuất của Hội đồng xử lý kỷ luật.

- Đối với công chức làm việc trong Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân: Thẩm quyền xử lý kỷ luật sẽ được thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức.

Hồ sơ và quyết định kỷ luật của công chức biệt phái cần được gửi về cơ quan quản lý công chức biệt phái. Những điều chỉnh này nhằm mục đích đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xử lý kỷ luật công chức.

 

2. Thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ theo quy định 

Theo quy định của Điều 20 Nghị định 112/2020/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 71/2023/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ được quy định như sau:

- Các cấp có thẩm quyền phê chuẩn và quyết định phê duyệt kết quả bầu cử đều có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ. Tuy nhiên, có một trường hợp đặc biệt:

​- Các chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước do Quốc hội phê chuẩn, Thủ tướng Chính phủ sẽ có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật, thay vì cấp có thẩm quyền phê chuẩn và quyết định phê duyệt kết quả bầu cử.

​- Trong trường hợp không có hoặc đang chờ quyết định phê chuẩn hoặc quyết định phê duyệt kết quả bầu, cấp có thẩm quyền bầu sẽ có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật cán bộ.

Theo đó, cấp có thẩm quyền phê chuẩn và quyết định phê duyệt kết quả bầu cử đều có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ. Tuy nhiên, đặc biệt là đối với các chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước được Quốc hội phê chuẩn, Thủ tướng Chính phủ sẽ đảm nhận thẩm quyền xử lý kỷ luật, thể hiện sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý cán bộ có tính chất đặc biệt.

Trong trường hợp không có hoặc chưa có quyết định phê chuẩn hoặc quyết định phê duyệt kết quả bầu cử, thì cấp có thẩm quyền bầu sẽ là người có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, tạo điều kiện cho quá trình quản lý và xử lý kỷ luật linh hoạt, hiệu quả. Quy định này không chỉ đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý kỷ luật mà còn thể hiện sự quyết liệt và chặt chẽ của hệ thống pháp luật trong việc duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đồng thời giữ vững uy tín và hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước. 

 

3. Thẩm quyền xử lý kỷ luật viên chức

Theo quy định tại Điều 31 Nghị định 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 15 Điều 1 Nghị định 71/2023/NĐ-CP quy định như sau: 

- Viên chức quản lý và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị:

+ Đối với viên chức quản lý, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm, họ sẽ tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.

+ Trong trường hợp viên chức giữ chức vụ, chức danh do bầu thì cấp có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định công nhận kết quả bầu cử sẽ thực hiện xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.

- Viên chức không giữ chức vụ quản lý:

+ Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập sẽ thực hiện xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật, trừ trường hợp quy định khác.

+ Trong trường hợp xử lý bằng hình thức buộc thôi việc, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cần báo cáo cấp có thẩm quyền tuyển dụng trước khi ra quyết định, trừ khi đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền tuyển dụng hoặc được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng.

- Viên chức biệt phái:

+ Đối với viên chức biệt phái, người đứng đầu cơ quan nơi viên chức được cử đến biệt phái sẽ thực hiện xử lý kỷ luật và thống nhất hình thức kỷ luật với cơ quan cử biệt phái.

+ Trong trường hợp kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc, quyết định buộc thôi việc sẽ được cơ quan cử biệt phái ra quyết định, dựa trên đề xuất của Hội đồng xử lý kỷ luật.

+ Hồ sơ, quyết định kỷ luật viên chức biệt phái cần được gửi về cơ quan quản lý viên chức biệt phái.

​- Đối với viên chức làm việc trong Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, thẩm quyền xử lý kỷ luật sẽ được thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý viên chức.

Thẩm quyền xử lý kỷ luật viên chức được phân chia rõ ràng theo từng đối tượng và tình huống cụ thể. Việc này nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng, và hiệu quả trong quá trình quản lý nhân sự của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thủ tục và quy trình xử lý kỷ luật được đề ra một cách chi tiết, giúp đảm bảo rằng quyết định kỷ luật được thực hiện một cách chính xác và công bằng.

Quy định cũng đặt ra các trường hợp ngoại lệ, như đối với viên chức làm việc trong Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân, nơi thẩm quyền xử lý kỷ luật được chấm dứt theo quy định cụ thể của cơ quan quản lý viên chức. Quy định này nhằm đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong việc xử lý kỷ luật viên chức, đồng thời tạo điều kiện cho quản lý và giữ gìn chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống nhà nước.

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Đang bị xử lý kỷ luật công chức có được hưởng chế độ hưu trí không?

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.