1. Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng 

Hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng rất thông dụng trong đời sống kinh tế, xã hội nhưng mang tính chất đặc thù xuất phát từ bản chất của tín dụng ngân hàng và chủ thể thực hiện hợp đồng. Tín dụng ngân hàng là hoạt động kinh doanh đặc thù và riêng có của các tổ chức tín dụng. Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 sau đây gọi chung là Luật các tổ chức tín dụng, hoạt đồng cấp tín dụng của tổ chức tín dụng là việc thỏa thuận cho khách hàng, gồm tổ chức và cá nhân, sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả thông qua nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, thấu chi bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và thẻ tín dụng. Trong số các hoạt động cấp tín dụng thì nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng được thực hiện nhiều nhất và chiếm tỷ lệ lớn nhất.

Hợp đồng tín dụng được giới hạn lại là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng vay, gồm tổ chức và cá nhân. Theo Luật các tổ chức tín dụng khoản 6 Điều 14 cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định một trong một thời gian nghất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Về mặt bản chất, hợp đồng tín dụng cũng chính là một dạng của hợp đồng vay tài sản của Bộ luật dân sự 2015 (Mục 4 chương XVI Phần thứ ba). Điểm đặc thù tạo nên sự khác biệt giữa hợp đồng tín dụng và các dạng hợp đồng vay tài sản khác là bên cho vay trong các hợp đồng tín dụng bắt buộc là các tổ chức tín dụng và đối tượng của hợp đồng luôn luôn là một khoản tiền. Tranh chấo phát sinh từ hợp đồng tín dụng là khi các bên có mâu thuẫn, bất đồng về việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà không thể thương lượng giải quyết được. 

Tranh chấp hợp đồng tín dụng bao giờ cũng có một bên là tỏ chức tín dụng. Để đảm bảo người  vay hoàn trả đủ và đúng hạn tiền vay cho mình, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm. Với các hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, tổ chức tín dụng cho vay luôn có quyền ưu tiên trong việc xử lý tìa sản đảm bảo để thu hồi nợ. Quyền này của tổ chức tín dụng được xác lập trên cơ sở giao dịch bảo đảm giữa tổ chức tín dụng (bên nhận bảo đảm) với bên bảo đảm là khách hàng vay (bên vay) hoặc chủ thể thứ ba bên bảo lãnh cho bên vay. Thông thường các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng do bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ không đúng hạn nghĩa vụ đối với bên cho vay, như vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó cũng có không ít những trường hợp tranh chấp phát sinh do tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ không đúng hạn nghĩa vụ đối với khách hàng vay, như: vi phạm nghĩa vụ giải ngân, tính lãi cho vay không đúng theo thỏa thuận, thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm không thôar thuận, thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm không đúng thỏa thuận, không đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết tại Tòa Án, các bên thường thống nhất với nhau về số tiền đã vay, số tiền gốc và số tiên lãi đã trả; số tiền gốc còn nợ. Nhưng phần lớn các vụ án các bên chủ yếu không thống nhất được với nhau về số tiền lãi còn nợ và về việc xử lý tài sản bảo đảm đối với hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản để thu hồi nợ.

Đồng thời, hoạt động tín dụng ngân hàng chịu sự điều chỉnh và liên quan đến rất nhiều ngành luật khác nhau, từ pháp luật dân sự đến các luật chuyên ngành về ngân hàng và các luật chuyển ngành khác có liên quan như doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, xây dựng, đát đai, tài nguyên, môi trường, xuất nhập khẩu, thuế, lao động, hôn nhân và gia đình, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh...Do vậy, một vụ án tranh cháp về hợp đồng tín dụng thường phức tạo và đòi hỏi phải có hiểu biết, kiến thức chuyên môn nhất định về hoạt động ngân hàng và nghiệp vụ cho vay.

2. Đặc điểm cơ bản của hợp đồng tín dụng 

2.1 Về chủ thể

Chủ thể giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng gồm bên cho vay và bên vay vốn. Bên cho vay là các tổ chức tín dụng Việt Nam và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, đây là một doanh doanh nghiệp đặc biệt, thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Hoạt động ngân hàng  (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nên mọi tổ chức tín dụng phải được cáp phép thành lập bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với những điều kiện rất khắt khe về vốn , về công nghệ, về tiêu chuẩn nahan sự, về năng lực quản trị, điều hành kiểm soát, năng lực chuyên môn, về địa điểm và các vấn đề liên quan đến đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Bên vay vốn có thể là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về cho vay của tổ chức tín dụng.

2.2 Về đối tượng

Về đối tượng của hợp đồng tín dụng thì đối tượng của hợp đồng tín dụng luôn luôn là một khoản tiền mà tổ chức tín dụng giao cho khách hàng vay sử dụng trong một thời hạn nhất định. Khoản tiền này có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ nếu khách hàng thuộc trường hợp được vay ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

2.3 Về hình thức 

Quan hệ hợp đồng bắt buộc phải được thể hiện bằng văn bản. Theo thông lệ, hợp đồng tín dụng bao giờ cũng do tổ chức tín dụng soạn thảo và khách hàng, nếu không phải là những khách hàng và có quyền năng đàm phán thì đều chấp nhận văn bản hợp đồng do tổ chức tín dụng soạn thảo.

2.4 Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Biện pháp bảo đảm tiền vay hay còn gọi là tài sản bảo đảm là một yếu tố đặc thù luôn gắn liền với hợp đồng tín dụng. Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh trên rủi ro, đặc biệt hoạt động cho vay có mức rủi ro mất vốn rất cao. Tài sản bảo đảm thường được các tổ chức tín dụng sử dụng như một giải pháp cuối cùng để hạn chế rủi ro mất vốn. Theo quy định của pháp luật, các tổ chức tín dụng được cho vay không có  tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng đều quy định những điều kiện khá ngặt nghèo để một khách hàng có thể được vay vốn mà không pahir có tài sản bảo đảm, còn đa phần đều là vay có tài sản bảo đảm. Biện pháp  bảo đảm tiền vay được quy định trong hợp đồng tín dụng và đồng thời được thể hiện bằng một hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản, trừ những trường hợp cầm cố tài sản, trừ những trường hợp có đặc thù như chứng từ có giá hay tiền gửi ngân hàng thì một số tổ chức tín dụng có thể sử dụng phương án chỉ cần được quy định cụ thể trong hợp đồng tín dụng, kèm theo thủ tục đăng ký bảo đảm tiền vay. 

2.5 Về sự đa dạng của phương thức cho vay

Việc cho vay theo hợp đồng tín dụng có thể phân loại theo nhiều phương thức khác nhau và mỗi phương thức có những tính chất đặc thù , dẫn đến tranh chấp phát sinh đối với mỗi loại hợp đồng tín dụng cũng có những đặc thù khác nhau: Các phương thức cho vay theo hợp đồng tín dụng bao gồm: Cho vay từng lần (mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng từng lần). Cho vay theo hạn mức tín dụng (tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định). Cho vay theo dự án đầu tư (tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống); Cho vay hợp vốn (một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Cho vay trả góp (khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thuận thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kiện trong thời hạn cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng (tổ chức tín dụng cam kết bảo đảm sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định, với thời hạn hiệu lực nhất định và có thu phí trả cho hạn mức hạn mức tín dụng dự phòng, khi khách hàng sử dụng hạn mức tín dụng thì mới phải trả lãi). Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thể tín dụng (tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ trả tiền mặt tại máy rút tiền tự động ATM hoặc điểm ứng tiền mặt là địa lý của tổ chức tín dụng. Cho vay theo hạn mức thấu chi (tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng và tính lãi suất trên số tiền chi vượt đó theo số ngày chi vượt thực tế.

3. Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng phổ biến 

Tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng: vô hiệu do yếu tố chủ thể, vô hiệu do nguyên nhân từ đối tượng của hợp đồng (đồng tiền cho vay), vô hiệu về hình thức của hợp đồng, vô hiệu do vi phạm điều cấm khác của pháp luật. Tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tranh chấp về việc áp dụng biện pháp thu hồi nợ. Tranh chấp về lãi suất: tranh chấp về việc áp dụng mức lãi suất cho vay, tranh chấp về việc áp dụng lãi suất quá hạn trên tiền lãi chậm trả, tranh chấp về cách tính lãi suất thả nổi. Tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ giải ngân