Luật sư tư vấn:

Vụ án: Quyết định Giám đốc thẩm số 32/2014/ KDTM-GĐT ngày 31/7/2014 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng B (nguyên đơn) đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC (bị đơn)

Tóm tắt nội dung vụ án:

Theo Đơn khỏi kiện đề ngày 16/02/2012, lời trình hày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thì thấy:

Ngân hàng B và Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại Cao su TC (sau đây viết tắt là Công ty TC) đã ký Hợp đồng tín dụng (cho vay theo hạn mức đối với khách hàng là doanh nghiệp) số 2000- LAV-201101382 ngày 14/3/2011, Phụ lục đính kèm, Biên bản sửa đổi bổ sung số 01/11 ngày 21/07/2011 và các Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ thì Ngân hàng B cho Công ty TC vay ngoại tệ (đô la Mỹ) theo hình thức Công ty TC vay bằng đô la Mỹ nhưng bán lại cho Ngân hàng B để nhận Việt Nam đồng. Theo đó, Ngân hàng B đã giải ngân cho Công ty TC tổng cộng là 1.779.349,11 đô la Mỹ nhưng đã bán lại cho Ngân hàng B nhận bằng Việt Nam đồng...

Riêng bà Nguyễn Thị Hồng T có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 93/EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 15/3/2011, thế chấp quyền sử dụng 250m2đất thuộc thửa 909-23, tờ bản đồ số 6, lô BI-07 khu dân sư TS, xã BH, huyện BC, TP. HCM, bảo đảm cho sốtiền vay 9.990.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 94/EIBSGĐ1-TDDN/BLTS/2011 ngày 15/3/2011, bà Nguyễn Thị Hồng T đã thế chấp 02 bất động sản (nhà, đất) tọa lạc tại số 30A và 38A đường NT, phưòng 5, quận 5, TP. HCM, bảo đảm cho số tiền vay 13.800.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương...

Đối với các tài sản bà T thế chấp tại hai hợp đồng thế chấp nói trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N, ông Đ và bà N đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng T thế chấp theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/10/2009, số công chứng 28629 (hợp đồng ủy quyền này được công chứng nên hợp pháp).

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 105/2013/KDTM-PT ngày 18/01/2013, Tòa án nhân dân Thành phốHCM, quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam; Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ hên quan: ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Hồng T; Chấp nhận một phần yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ hên quan: ông, bà Nguyễn Thành T, Phan Thị N, Huỳnh Thanh B, Đoàn Thế Đ, Nguyễn Thị X.

1.    Buộc Cồng ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 23/9/2012 gồm: Vốn gốc: 1.413.514,11 đô la Mỹ; Lãi trong hạn: 71.837,54 đô la Mỹ; Lãi quá hạn: 32.632,29 đô la Mỹ; Lãi phạt: 2.441,57 đô la Mỹ. Tổng cộng là: 1.520.425,51 đô la Mỹ (Một triệu năm trăm hai mươi ngàn bốn trăm hai mươi lăm đô la Mỹ và năm mươi một cent) được thanh toán bằng Việt Nam đồng theo tỷ giá quy đổi đô la Mỹ tại thời điểm thanh toán...

2.    Xử lý tài sản thế chấp:

2.1.    Hủy bỏ Hợp đồng thế chấp số 93/EIBSGD1-TDDN/ BLTS/11 ngày 15/3/2011 công chứng SỐ006463 ngày 15/3/2011 và Hợp đồng thế chấp số 94/EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 15/3/2011 công chứng số 006462 ngày 15/3/2011 (Đối với Quyền sử dụng 250m2 đất thuộc thửa 909-23, tờ bản đồ số6, lô BI-07 khu dân cư TS, xã BH, huyện BC, TP. HCM; 02 (hai) bất động sản tọa lạc tại số 30A và 38A đường NT, phường 5, quận 5, TP. HCM) khi án có hiệu lực pháp luật...

2.2.    Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC không thanh toán hoặc không trả hết số nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật kể cả việc kê biên, phát mãi tài sản thế chấp trong hạn mức tín dụng vốn gốc và các loại tiền lãi, tiền phạt, đã thỏa thuận thế chấp sau đây để Ngân hàng thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam thu hồi nợ:...

3.    Án phí kinh doanh, thương mại...

Sau khi xét xử phúc thẩm, Ngân hàng có nhiều đơn đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm; Ngày 16/4/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Văn bản số 2640/NHNN-PC gửi Tòa án nhân dân tối cao về việc đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm; Ngày 15/2/2013, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC có đơn đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm vì các hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.

Tại Quyết định kháng nghị số 81/KN-KDTM ngày 13/12/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 105/2013/KDTM-PT ngày 18/01/2013 của Tòa án nhân dân TP. HCM về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu VN (Eximbank) và bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nhận định:

... Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 388/EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 25/7/2011; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 384/EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 25/7/2011; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 385/EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 25/7/2011 hợp pháp, có giá trị pháp lý là đúng.

Đối với hai Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 93/ EIBSGD1-TDDN/BLTS/11 ngày 15/3/2011 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn bền với đất số 94/ EIBSGD1-TDDN/BLTS/2011 ngày 15/3/2011, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị N chỉ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng T thế chấp
chứ không ủy quyền cho bà Tươi đem tài sản bảo lãnh cho người khác vay tiền và Tòa án cấp phúc thẩm còn cho rằng tại hợp đồng thế chấp có ghi: bên thế chấp có cả tên ông Đ, bà N nhưng ông Đ, bà N không ký tên là không đầy đủ để từ đó xác định các hợp đồng này vô hiệu là không đúng, vì:

Tại Hợp đồng ủy quyền ngày 19/10/2009 công chứng số 28629, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N chủ sở hữu các tài sản gồm: Nhà và đất tại 129 ND, phường BT, quận 1, TP. HCM; Quyền sử dụng 250 m (Thông 'tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của thông tư liên tịch số 05/2005/ TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 về việc đàng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất) đất thuộc thửa 909-23, tờ bản đồ số 6, lo BI-07 KDC TS, xã BH, huyện BC, TP. HCM và 02 (hai) bất động sản tọa lạc tại số 30A và 38A đưòng NT, phường 5, quận 5, TP. HCM ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng T được: "... thế chấp, xóa thế chấp, bán chuyển nhượng hoặc tặng cho, hủy hợp đồng mua bán-chuyển nhượng, xóa thế chấp, hợp đồng tặng cho (kể cả trước và sau khi xấy dựng) đối với các tài sản nêu trên, căn cứ theo những quy định của pháp luật’. Việc ủy quyền này đúng theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 31 Nghị Định số 84/2007/NĐ-CP (Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai); điểm 2.1 khoản 2 mục I Thông tư liên tịch số 03/2006 TTLT-BTP-BTNMT2 và điểm a mục 1.1 mục I Thông tư
số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT (Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất) ngày 13/6/2006; khoản 4 Điều 72 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày đều có quy định việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba. Ồng Đ, bà N ủy quyền cho bà T được quyền thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nên không bắt buộc ông Đ, bà N phải ký vào hợp đồng thế chấp.

Căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền nêu trên, bà T đã ký Hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của Công ty TC tại Eximbank là phù hợp với nội dung ủy quyền của ông Đ, bà N. Các hợp đồng này được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Do đó, các hợp đồng thế chấp này là hợp pháp, không bị vô hiệu.

Ngoài ra, tại Hợp đồng tín dụng (cho vay theo hạn mức đối với khách hàng là doanh nghiệp) số 2000-LAV- 201101382 và phụ lục đính kèm có quy định: Bên vay là Công ty TC phải gánh chịu lãi trong hạn, lãi quá hạn (bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn) và còn phải chịu phạt do chậm trả lãi là lãi chồng lãi nên Eximbank yêu cầu Công ty TC trả số tiền phạt 2.441,57 đô la Mỹ. Tòa án qấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu này là không đúng pháp luật...

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 105/2013/KDTM- PT ngày 18/01/2013 của Tòa án nhân dân

TP, HCM về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu VN và bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.