1. Mở đầu vấn đề

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật rất đa dạng, phong phú. Có thể phân loại các nguyên tắc của chính sách pháp luật theo các cơ sở, tiêu chuẩn khác nhau. Mỗi cách phân loại đều có những giá trị nhận thức, lý luận và thực tiễn nhất định.

Trong các cách phân loại có thể có thì việc phân loại các nguyên tắc của chính sách pháp luật thành các nguyên tắc cơ bản và các nguyên tắc không cơ bản có ý nghĩa quan trọng nhất.

Trong các nguyên tắc của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay có thể nêu ra các nguyên tắc cơ bản sau đây: (i) tính được lập luận khoa học; (ii) tính hệ thống; (iii) tính nhất quán; (iv) tính hướng đích; (v) dự báo; (vi) tính hiện thực và các nguyên tắc khác.

Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về từng nguyên tắc ở các mục sau.

2. Tính được lập luận khoa học

Tính được lập luận khoa học với tư cách là nguyên tắc quan trọng nhất của chính sách pháp luật Việt Nam được hiểu là trạng thái lý tưởng nào đó mà các chủ thể của chính sách pháp luật cần phải vươn tới. Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, khi xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật các chủ thê’ của chính sách pháp luật cần phải dựa vào các thành tựu của khoa học, các kiến nghị và đề nghị do các công trình khoa học đưa ra. Nếu thiếu việc bảo đảm quan điểm lý luận, học thuyết đầy đủ trong điều kiện đời sống pháp luật ngày càng phức tạp hơn như hiện nay, thì về mặt thực tế, không thê’ xây dựng được chính sách pháp luật có đầy đủ giá trị đê’ phúc đáp nhu cầu phát triển xã hội.

Ở đây điều có ý nghĩa quan trọng là cần phải nhận thức được rằng, khoa học không chỉ nghiên cứu chính sách pháp luật như nó có mà cần phải soạn thảo những luận điểm được lập luận về mặt khoa học đê’ khẳng định rằng, chính sách pháp luật cần phải như thế nào. Do vậy, vâh đề mang tính thực chất không phải ở chỗ chính sách pháp luật có tồn tại hay không tồn tại mà ở chỗ chính sách pháp luật cần phải như thế nào trong điều kiện hiện nay ở nước ta.

Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm tính khoa học của chính sách pháp luật được quyết định một cách khách quan, một mặt, bởi sự phức tạp hóa của các quá trình điều chỉnh pháp luật, và đồng thời, bởi tính kết quả không đầy đủ của chúng mặt khác, bởi sự phát triêh của những hiểu biết khoa học, bởi khả năng của khoa học hiện nay ảnh hưởng một cách tích cực đến chính sách pháp luật. Quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật dựa vào cách tiếp cận mang tính khoa học trong điều kiện như vậy là nhu cầu khách quan và là sự thể hiện nhận thức luận trong nguyên tắc bảo đảm tính khoa học. Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học phản ánh các mặt hoạt động mang tính quy luật nhất định của chính sách pháp luật của nhà nước đương đại, nhưng không phải vì vậy mà nguyên tắc bảo đảm tính khoa học được thực hiện một cách tự động. Để thực hiện nguyên tắc này cần phải có những tiền đề tương ứng: cả những tiền đề lý luận và những tiền đề thực tiễn; cả những tiền đề chủ quan và những tiền đề khách quan.

Cũng cần phải hiểu rằng, không thể có một quan niệm khoa học duy nhất về chính sách pháp luật trong xã hội dân chủ đang phát triêh. Trong hiện thực, có các quan điểm, lý luận, học thuyết, trường phái khoa học khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Các quan điểm, lý luận, học thuyết, trường phái khoa học đó đưa ra những phương thức tối ưu khác nhau về phát triển pháp luật, thậm chí đó là những phương thức rất khác nhau hoặc mâu thuẫn với nhau. Đồng thời, chính sách trong lĩnh vực pháp luật do các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện, cũng như chính sách đó có thể là khác nhau, riêng biệt, có nhiều lực lượng xã hội hoặc các nhóm xã hội có các quan điểm khác nhau tham gia. Như vậy, trong xã hội dân chủ chính sách pháp luật mang tính chất đa dạng, nhiều phương án.

3. Tính hệ thống

Tính hệ thống là nguyên tắc cơ bản tiếp theo của chính sách pháp luật Việt Nam, được hiểu là, xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật là hoạt động cần phải mang tính tổng thể, tính toàn diện. Các thuộc tính cơ bản của nguyên tắc hệ thống là bảo đảm sự hài hòa của các mắt xích, các khâu khác nhau của chính sách pháp luật, sự thống nhất bên trong của các mắt xích, của các khâu đó, sự tác động rõ ràng, cụ thể lẫn nhau và tính quyết định lẫn nhau của chúng. Nếu như trong xã hội các chủ thể của chính sách pháp luật có sự phân tán, không có định hướng chung, có những hoạt động hỗn loạn, mất trật tự thì không thể bảo đảm được tính hệ thống trong chính sách pháp luật.

Do vậy, nếu như xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật nói chung việc xác định các nhiệm vụ ưu tiên của xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, của cải cách tư pháp, của xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật nói riêng ở nước ta hiện nay mang tính tổng thể, tính chỉnh thể, tính toàn diện, từng yếu tố của cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp, hệ thống chính sách pháp luật bảo đảm được tính tổng thể, tính tổng họp, tính toàn diện, thì công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật sẽ thành công.

Tính hệ thống của chính sách pháp luật có nghĩa là sự tác động chặt chẽ lẫn nhau giữa các hình thức thực hiện khác nhau của chính sách pháp luật: học thuyết về chính sách pháp luật, chính sách xây dựng pháp luật, chính sách áp dụng pháp luật, chính sách giải thích pháp luật, chính sách giáo dục và đào tạo pháp luật và các hình thức khác. Khi sử dụng các hình thức đó để thực hiện chính sách pháp luật cần phải bảo đảm sự tác động lẫn nhau, sự bổ trợ lẫn nhau, sự tiếp nối lẫn nhau của chúng mới đạt được kết quả mong muốn - các mục tiêu của chính sách pháp luật.

Điều quan trọng hơn là từng hình thức trong các hình thức thực hiện chính sách pháp luật phải phụ thuộc, tương tác lẫn nhau, bởi vì, các hình thức đó thể hiện là những định hướng khác nhau của cùng một quá trình chính sách pháp luật. Ví dụ, chính sách xây dựng pháp luật có giá trị đầy đủ không thể thiếu các nghiên cứu, đề nghị mang tính học thuyết, lý luận, thiếu các tư tưởng khoa học, thiếu các hệ quan điểm thể hiện sự đánh giá trạng thái của đời sống pháp luật và viễn cảnh phát triêh của pháp luật trong xã hội, thiếu kinh nghiệm áp dụng pháp luật và các luận điểm áp dụng pháp luật tương ứng, thiếu việc cân nhắc các văn bản giải thích pháp luật chính thức, thiếu văn hóa pháp luật cao của những người thực hiện hoạt động xây dựng pháp luật, thiếu công việc giải thích pháp luật thường xuyên, có trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền đối với dân cư.

Do đó, chính sách pháp luật được coi là hoạt động có hệ thống được phối hợp chặt chẽ bên trong, được thể hiện trong các hình thức thực hiện khác nhau và các hình thức đó vẫn phải ở trong định hướng chung của chính sách đó và được phối hợp với các định hướng còn lại của nó.

4. Tính nhất quán

Nguyên tắc bảo đảm tính nhất quán trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật có ý nghĩa quan trọng. Chính sách pháp luật Việt Nam, theo các đòi hỏi của nguyên tắc này, cần phải tiến hành trên cơ sở của chương trình phát triêh pháp luật dài hạn định hướng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của xã hội Việt Nam. Nhưng cũng không được bỏ qua các kế hoạch ngắn hạn trong lĩnh vực xây dựng pháp luật (đặc biệt hoạt động xây dựng luật), hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật, hoạt động giáo dục và đào tạo pháp luật. Điều đó có nghĩa rằng, bộ phận cấu thành cơ bản của nguyên tắc bảo đảm tính nhất quán của chính sách pháp luật là tính kế hoạch hóa.

5. Tính hướng đích

Chính sách pháp luật, như mọi chính sách khác, buộc phải có tính hướng đích. Do đó, tính hướng đích là một trong những nguyên tắc có ảnh hưởng lớn nhất của chính sách pháp luật. Nguyên tắc này có nghĩa rằng, chính sách pháp luật cần phải xác định rõ ràng các mục tiêu nhất định (các mục tiêu dài hạn, các mục tiêu trung hạn, các mục tiêu ngắn hạn) và các nhiệm vụ ưu tiên của hoạt động pháp luật xuất phát từ các kết quả mong đợi cuối cùng đã được đặt ra.

6. Tính dự báo

Dự báo, với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của chính sách pháp luật, có nghĩa là sự tiên định, nhìn thấy trước, tầm nhìn về các tiến trình pháp lý trong tương lai của các chủ thể pháp luật, sự chỉnh sửa tương ứng các tiến trình đó khi cần thiết và sự thể hiện với tư cách là mô hình hành vi trong hệ thống điều chỉnh pháp luật và sau đó trong đời sống pháp luật.

Nhiệm vụ quan trọng của chính sách pháp luật thể hiện ở việc nhìn thấy trước, ở tầm nhìn được lập luận khoa học về các hậu quả mong đợi khi đưa các quy định pháp luật nhất định vào áp dụng trong cuộc sống, cũng như ở việc soạn thảo các quy định như vậy mà việc đưa chúng vào hệ thống pháp luật hiện hành bằng hoạt động xây dựng pháp luật (đạo đức hoạt động lập pháp) là nguyên nhân dẫn đến những kết quả mong đợi nhất định.

Dự báo là nguyên tắc của chính sách pháp luật dựa vào việc nhìn thấy trước trong tương lai về các phương án có khả năng, tiềm năng của sự phát triêh các quan hệ xã hội được điều chỉnh và các quyết định được ban hành trong lĩnh vực pháp luật, bởi vì, mọi mô hình chính sách pháp luật cần phải cân nhắc các yếu tố hàng ngày của trạng thái xã hội với sự diễn biến của nó, các xu hướng và tương lai phát triển tiếp theo, cần phải cân nhắc kịp thời cả những thay đổi có thể có.

Khi phân tích nguyên tắc này cần phải lưu ý rằng, hoạt động "vượt trước" là một trong những cấu thành của quá trình quản lý nói chung. Nhưng rất tiếc, dựa trên việc phân tích các hiện thực pháp lý hiện nay, có thể nói rằng, cấu thành dự báo rất ít được xem xét, cân nhắc trong chính sách pháp luật hiện nay của nước ta. Nguyên nhân của tình trạng này thể hiện ở chỗ, các cơ quan nhà nước phần lớn quan tâm đến việc giải quyết các công việc, các nhiệm vụ hàng ngày về kinh tế, xã hội, văn hóa, về đấu tranh vói tham nhũng mà chưa quan tâm nhiều đến dự báo, đến những vâh đề gì cần được dự báo, đặc biệt dự báo về các quan hệ xã hội trong tương lai cần được pháp luật điều chỉnh. Ví dụ, khó mà tin được rằng, các cơ quan quyền lực và những người có chức vụ, quyền hạn không biết gì về tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, trong lĩnh vực bảo vệ rừng, về bong bóng thị trường bất động sản hiện nay và những tình hình khác tương tự.

Ở đây những vấn đề mang tính quy luật hoàn toàn được đặt ra: nếu như các vi phạm tương tự nói trên không được dự báo trong phạm vi của chính sách xây dựng pháp luật và tương ứng không có giải pháp, biện pháp xử lý hợp pháp, thì vì sao ở mức độ chính sách áp dụng pháp luật các chủ thể tương ứng lại chưa nhận thấy? Trong thời gian đó các cơ quan kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo vệ pháp luật ở đâu? V1 sao các cơ quan nhà nước không phản ứng tích cực đối với các vấn đề cần được giải quyết chuyển động?

Đến nay, chưa thể có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi đó, bởi vì, các cơ quan nhà nước vẫn chưa có hoạt động vượt trước mà chỉ tiến hành hoạt động giải quyết mang tính tình huống sau khi các sự kiện nghiêm trọng thường lệ đã xẩy ra.

Xây dựng chính sách pháp luật là quá trình không đơn giản và quá trình đó chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Tính vội vàng và tính không kế tiếp nhau trong việc xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương tiện, việc thiếu vắng tầm nhìn về các kết quả mong đợi có thê’ có, những sai lầm trong việc xác định các thời hạn đạt được các mục tiêu đã được đặt ra, việc cân nhắc không đầy đủ các tình tiết khác nhau đang có,... sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chính sách pháp luật đang được xây dựng. Do vậy, cần phải quan tâm đặc biệt đến tiềm năng của dự báo pháp luật với tư cách là một trong những giải pháp phòng ngừa để ngăn ngừa các hậu quả tiêu cực khi xây dựng mọi chính sách công, trong đó có chính sách pháp luật.

Ví dụ, các khách thể của dự báo pháp lý có thể là khối lượng và tính chất của điều chỉnh pháp luật, diễn biến trong thái độ của công dân đối với các hiện tượng pháp luật này hay các hiện tượng pháp luật khác, diễn biến của các thiết chế nhà nước, nhu cầu về chức năng của các thiết chế đó trong co quan nhà nước.

Dự báo có thê’ được sử dụng cả trong hình thức chính sách xây dựng pháp luật lẫn trong hình thức chính sách áp dụng pháp luật của thực hiện chính sách pháp luật, cả khi hình thành lẫn khi thực thi chính sách pháp luật.

Nếu nói về chính sách xây dựng pháp luật mà chính xác hơn là nói về chính sách lập pháp, thì các kết luận của dự báo pháp lý đã được tiến hành để phận tích và đánh giá các phương án được thông qua và có hiệu lực của đạo luật là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đốì với việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật hiệu quả. Do vậy, việc tiến hành các nghiên cứu dự báo được khuyến nghị coi là một trong những giai đoạn của hoạt động lập pháp. Mục tiêu cơ bản của giai đoạn này là sự định hướng của nhà lập pháp đến việc tìm kiếm cách giải quyết tối ưu nhiệm vụ bằng việc lựa chọn phương án phát triển tối ưu được chấp nhận cao nhất. Ở giai đoạn này, những vâh đề sau đây sẽ được nghiên cứu: các phương án có tiềm năng của việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, các hậu quả tích cực và tiêu cực do việc thực hiện từng phương án đem lại, mức độ hiệu quả có thể được xác định, dư luận xã hội về dự án văn bản quy phạm pháp luật. Dự báo với tư cách là một giai đoạn không bắt buộc của hoạt động xây dựng pháp luật cần được tiến hành khi soạn thảo dự án luật.

Cùng với nhà làm luật, các cơ quan hành pháp cũng cần phải thực hiện nghiên cứu dự báo, bởi vì, các cơ quan hành pháp cũng tham gia xây dựng chính sách pháp luật, và do vậy, cũng cần phải nhìn thấy trước các hậu quả của việc ban hành các văn bản dưới luật do mình ban hành: nghị quyết, quyết định, thông tư...

Dự báo có khả năng tăng thêm sức mạnh cho chính sách áp dụng pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh chống tình hình tội phạm.

7. Tính hiện thực

Cùng với các nguyên tắc nêu trên của chính sách pháp luật, nguyên tắc bảo đảm tính hiện thực (tính khả thi) đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng và tô’ chức thực hiện chính sách pháp luật, các chủ thể của chính sách pháp luật cần phải hướng đến các mục tiêu cần phải đạt được trong tình huống nhất định và xác định các phương tiện đầy đủ cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Tính hiện thực đòi hỏi phải cân nhắc đầy đủ, toàn diện thực trạng kinh tế - xã hội hiện có của xã hội, các truyền thống dân tộc, tôn giáo và văn hóa, các giá trị đạo đức, các nguồn lực, v.v. của xã hội. Dựa vào trình độ phát triêh hiện thực, hiện có của các quan hệ xã hội, nguyên tắc này sẽ định hướng cho các chủ thê’ của chính sách pháp luật không phải đến các mục tiêu và các nhiệm vụ tru tiên tách rời đời sống mà đến các mục tiêu và các nhiệm vụ ưu tiên hiện thực hàng ngày và được thực hiện trong tình huống, thời gian cụ thể.

Ví dụ, hiện nay các công trình nghiên cứu đã đưa ra những đòi hỏi đã được lập luận đầy đủ để nhà làm luật không ban hành các đạo luật khi không được bảo đảm bằng các nguồn lực vật chất, tài chính và các nguồn lực khác. Các khẩu hiệu như "đặt ra các mục tiêu hiện thực cần đạt được" và "sống bằng các phương tiện hiện có" cần phải trở thành các yếu tố quyết định trong hoạt động chính sách công nói chung và hoạt động chính sách pháp luật nói riêng.

8. Kết thúc vấn đề

Như vậy, chính sách pháp luật Việt Nam dựa trên các tư tưởng cơ bản quan trọng là: tính được lập luận khoa học, tính hệ thống, tính nhất quán, tính hướng đích, dự báo, tính hiện thực.

Đây là các nguyên tắc quan trọng nhất của chính sách pháp luật, định hướng cho các chủ thể chính sách pháp luật tương ứng đến các mô hình chính sách pháp luật có chất lượng. Tất cả các nguyên tắc đó bằng cách này hay cách khác đặc trung cho bản chất và thực chất của chính sách pháp luật, bởi vì, chúng được phản ánh trong quan niệm hiện nay về chính sách pháp luật. Tất cả các nguyên tắc của chính sách pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).