1. Khái niệm chế độ pháp luật
Khái niệm "chế độ pháp luật" được sử dụng một cách tích cực hơn trong sách báo khoa học, được khẳng định ngày càng vững chắc hơn với tư cách là một trong những phạm trù quan trọng nhất của luật học. Nhà làm luật thường xuyên sử dụng các cụm từ, ví dụ như: "chế độ thuế quan", "chế độ hoạt động kinh doanh", "chế độ trại giam", "chế độ ưu đãi", "chế độ tiền tệ", "chế độ đặc biệt", "chế độ bảo vệ đặc biệt", "chế độ tối huệ quốc",...
Vậy, chế độ pháp luật là gì?
Trong sách báo pháp lý nước ngoài, chế độ pháp luật được định nghĩa: cả như một chế độ xã hội của một khách thể nào đó được ghi nhận bởi các quy phạm pháp luật và được bảo đảm bởi tổng thể các phương tiện pháp lý; cả như một trật tự điều chỉnh nhất định được thê’ hiện ở tổng thể các phương tiện pháp luật đặc trưng cho sự kết hợp đặc biệt lẫn nhau của những điều cho phép, của những điều cấm, cũng như của sự bắt buộc tích cực và tạo ra định hướng đặc biệt của sự điều chỉnh; cả như kết quả của sự tác động quy phạm đến các quan hệ xã hội của hệ thống các phương tiện pháp lý đặc trung cho một ngành pháp luật cụ thể và bảo đảm cho sự hoạt động bình thường của tổng thể các quan hệ xã hội đó.
Ở phương diện khái quát nhất có thể đồng ý với các định nghĩa nêu trên về chế độ pháp luật, bởi vì, các điều kiện cơ bản nhất của chế độ pháp luật được phản ánh trong các định nghĩa đó.
Đồng thời, các định nghĩa nêu trên có một số nhầm lẫn cần được làm rõ.
- Trong ngữ cảnh thứ nhất, chế độ pháp luật được định nghĩa thông qua khái niệm chế độ xã hội - khái niệm, đến lượt mình, cũng không có sự rõ ràng và cần phải làm rõ và giải thích.
- Định nghĩa thứ hai cũng dư thừa nhiều từ, các thuật ngữ cụ thể được lặp lại nhiều lần ("điều chỉnh"). Đồng thời, chế độ pháp luật theo các định nghĩa đó không chỉ ra tính định hướng của sự điều chỉnh pháp luật (dấu hiệu hình thức), mức độ thuận lợi hoặc không thuận lợi của nó đối với các lợi ích của các chủ thể khác nhau của pháp luật (tiêu chuẩn vật chất).
Cần phải lưu ý rằng, từng chế độ pháp luật là tất cả những gì chính của "chế độ" và khái niệm về nó chứa đựng trong mình những sắc thái ý nghĩa cơ bản của từ đó, trong đó có sắc thái thể hiện ở chỗ rằng, chế độ pháp luật thể hiện mức độ khắt khe, nghiêm ngặt của sự điều chỉnh pháp luật, sự hiện có các hạn chế và ưu đãi rõ ràng, mức độ cho phép trong hoạt động của các chủ thổ, các giói hạn về tính độc lập pháp luật của các chủ thể. Chính vì vậy, khi xem xét các vâh đề pháp luật chúng ta thường nói, ví dụ, về chế độ pháp luật "nghiêm ngặt", "tru đãi".
- Ở định nghĩa thứ ba, việc nhận thức về chế độ pháp luật chỉ như là kết quả của sự tác động quy phạm pháp luật là quá hẹp và không cần thiết. Chế độ pháp luật - đó không chỉ là kết quả, mà còn là hệ thống các điều kiện và các biện pháp thực hiện sự điều chỉnh pháp luật, "quy chế" hoạt động nhất định của pháp luật cần thiết cho việc đạt được một cách tối tru các mục tiêu tương ứng, trong đó có các mục tiêu của chính sách pháp luật. Chế độ pháp luật có nhiệm vụ bảo đảm cho việc đem đến hiệu quả của một trạng thái xã hội mong đợi, bởi vì, chế độ pháp luật chỉ ra con đường đến vói kết quả như vậy, cách thức đạt được kết quả đó. Chế độ pháp luật, trước hết, đó là đặc điểm chức năng của pháp luật.
Từ việc phân tích ở trên, có thể định nghĩa chế độ pháp luật là trật tự điêu chỉnh pháp luật đặc biệt thểhiện sự kết hợp nhất định các phương tiện pháp lý để tạo ra trạng thái xã hội mong muốn và mức độ thuận lợi hoặc không thuận lợi cụ thểđôì vói việc làm thỏa mãn các lợi ích của các chủ thể của pháp luật.
Ví dụ, có thể nêu ra các chế độ pháp luật có sự khác nhau về nội dung và các hình thức biểu hiện như sau: chế độ ổn định tài chính, chế độ thuế quan bảo hộ, chế độ xuất nhập cảnh, chế độ các vùng và lãnh thổ tự do cụ thể, chế độ bảo vệ và vận chuyển vũ khí hạt nhân và hóa học, chế độ hoãn nợ, chế độ cấm vận, V.V..
2. Dấu hiệu đặc trưng của chế độ pháp luật
Các chế độ pháp luật có các dấu hiệu đặc trưng sau đây:
- Các chế độ pháp luật do pháp luật quy định và được nhà nước bảo hộ;
- Các chế độ pháp luật có mục tiêu thể chế hóa một cách đặc thù các lĩnh vực quan hệ pháp luật cụ thể, tách ra theo các giới hạn thời gian và không gian các chủ thể và khách thể này hay các chủ thể và khách thể khác của pháp luật;
- Các chế độ pháp luật là các trật tự điều chỉnh pháp luật đặc biệt, bao gồm tổng thể các phương tiện pháp lý và được đặc trưng bởi sự kết hợp nhất định của các phương tiện pháp lý;
- Các chế độ pháp luật tạo ra mức độ thuận lợi hoặc không thuận lợi cụ thể đối với việc làm thỏa mãn các lợi ích của các chủ thể và các liên hiệp các chủ thể.
3. Sử dụng chế độ pháp luật
Việc sử dụng chế độ pháp luật này hay chế độ pháp luật khác tùy thuộc vào các quan hệ xã hội được nhà nước quan tâm phát triển. Ví dụ, với mục tiêu thực hiện một cách tích cực hơn sự đổi mới trong một lĩnh vực nào đó, cần phải quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật các chế độ pháp luật tương ứng để tạo điều kiện cho hoạt động đó, điều mà hiện tại chưa đủ cơ sở pháp luật cho việc tiến hành những sự đổi mói. Do đó, sự lựa chọn chế độ pháp luật tùy thuộc vào chính sách pháp luật, cũng như được xác định bởi các đặc điểm kỹ thuật pháp lý của việc thiết kế văn bản luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật khác.
4. Xây dựng chế độ pháp luật
Khi xây dựng các chế độ pháp luật, các chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật sử dụng các phương pháp kỹ thuật pháp lý đặc thù đê’ hình thành nên chế độ pháp luật đặc biệt, được tách ra từ trật tự chung. Chế độ pháp luật đặc biệt đó được gọi là chế độ pháp luật ngoại lệ, bao gồm các yếu tố cấu thành sau: (i) quy tắc chung ("tất cả"); (ii) những ngoại lệ từ quy tắc chung (thông thường là danh mục những ngoại lệ được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật với tư cách là những điều được liệt kê đầy đủ).
Ở đây, những ngoại lệ không thể là những giả định, chúng bao giờ cũng được chỉ ra một cách chính xác, cụ thể, đầy đủ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Ưu điểm của việc áp dụng chế độ như vậy thê’ hiện ở chỗ, một mặt, chế độ đó bảo đảm trình độ khái quát cao của tính quy phạm ("tính tiêu chuẩn") của các quy định pháp luật, mặt khác, cho phép cân nhắc được tính đặc thù của các tình huống cuộc sống, bằng cách đó bảo đảm được mức độ cụ thê’ hóa cao của các quy định pháp luật. Như vậy, chủ thê’ xây dựng pháp luật cụ thê’ hóa một cách đầy đủ cả quy phạm pháp luật chung, đồng thời, lẫn quy phạm pháp luật cụ thê. Đối với những ngành pháp luật sử dụng số lượng lớn các quy định chung (các nguyên tắc của pháp luật, các quy phạm - định nghĩa...), thì việc áp dụng loại chế độ pháp luật đó trong đời sống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Một loại chế độ pháp luật đặc biệt được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội là chế độ mà ở đó nhà làm luật sử dụng tích cực phưcmg pháp kỹ thuật pháp lý "danh mục được liệt kê đầy đủ". Phưong pháp quy định danh mục được liệt kê đầy đủ có khả năng đạt được mức độ chính xác cao trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, xác định được rõ ràng những phạm vi của hành vi của những người tham gia các quan hệ xã hội được thiết lập, loại trừ được tính không xác định trong điều chỉnh. Loại chế độ pháp luật như vậy do chủ thê’ của chính sách pháp luật quy định khi xác lập thẩm quyền đặc biệt, chẳng hạn, của Chủ tịch nước, của các cơ quan quyền lực nhà nước, của các cơ quan hiến định và trong những trường hợp khác.
Tuy vậy, ở phương diện tâm lý - thông tin, chế độ pháp luật không chỉ thể hiện đặc điểm của định hướng điều chỉnh pháp luật mà còn thể hiện đặc trưng về mức độ thuận lợi của nó đối với các lợi ích của các chủ thê’ pháp luật nhất định, bởi vì, chế độ pháp luật được thiết lập từ sự kết hợp khác nhau các kích thích pháp luật và các hạn chế pháp luật.
Do vậy, từ quan điểm tiếp cận tâm lý - thông tin có thể coi chế độ pháp luật là loại hình điều chỉnh pháp luật đặc thù được thê’ hiện trong tổng thê’ nhất định các kích thích pháp luật và các hạn chế pháp luật. Các kích thích pháp luật và các hạn chế pháp luật có ý nghĩa quan trọng nhất đối vói việc làm sáng tỏ các chế độ pháp luật.
Nói cách khác, chế độ pháp luật thể hiện với tư cách là khí chất đặc sắc của sự tác động pháp lý. Tùy thuộc vào việc các phương tiện như thế nào thống trị trong chế độ pháp luật mà chế độ pháp luật có thể, hoặc là chế độ pháp luật khuyến khích, hoặc là chế độ pháp luật hạn chế. Nếu như chế độ pháp luật khuyến khích tạo ra những điều kiện thuận lợi, và đôi khi rất thuận lợi để làm thỏa mãn nhóm lợi ích cụ thể, chẳng hạn, chế độ tối huệ quốc, thì chế độ pháp luật hạn chế nhằm kìm chế tổng thể các lợi ích (ví dụ, chế độ pháp luật được sử dụng để quy định chế độ pháp luật của công dân nước ngoài).
Đến lượt mình, các chế độ pháp luật khuyến khích và các chế độ pháp luật hạn chế có thể được phân loại nhỏ hon tùy thuộc vào việc những khuyến khích và những hạn chế như thế nào chiếm ưu thế trong các loại chế độ pháp luật đó. Chẳng hạn, các chế độ pháp luật khuyến khích có thể được phân thành chế độ pháp luật cho phép, chế độ pháp luật khuyến nghị, chế độ pháp luật ưu đãi, chế độ pháp luật khích lệ. Đó là các chế độ pháp luật mà ở đó những sự cho phép, những khuyến nghị, những ưu đãi, những khích lệ thống trị tưong ứng. Các chế độ pháp luật hạn chế gồm chế độ pháp luật bắt buộc, chế độ pháp luật cấm, chế độ pháp luật trừng phạt, V.V..
5. Chế độ pháp luật khuyến khích mềm dẻo
Chế độ pháp luật khuyến khích "mềm dẻo" nhất là chế độ tối huệ quốc.
Chế độ pháp luật này được hình thành từ hệ thống chỉnh thể những điều cho phép, những ưu đãi và những khuyến khích hấp dẫn. Có nhiều chủ thể pháp luật quan tâm đến chế độ pháp luật như vậy, bởi vì, chế độ pháp luật đó tạo ra không ít những đặc quyền (quyền ưu tiên) và những món lợi lộc, môi trường pháp lý thuận lợi dưới dạng sự thuận lợi về mặt pháp lý - xã hội.
Trong điều kiện hiện nay cần tăng cường xác lập chế độ pháp luật như vậy cho tất cả các nhà đầu tư, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài. Để thu hút các nhà đầu tư vào đầu tư ở Việt Nam, điều trước hết cần làm là xây dựng và ban hành chế độ pháp luật khuyến khích phù hợp, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định để họ đưa các nguồn vốn, kỹ thuật và công nghệ đầu tư vào Việt Nam.
6. Chế độ pháp luật hạn chế nghiêm khắc
Chế độ pháp luật hạn chế "nghiêm khắc", có lẽ, đó là chế độ cấm vận.
Chế độ pháp luật này được hình thành từ hệ thống chinh thể các biện pháp hạn chế tương ứng: các điều cấm, các nghĩa vụ, các tạm đình chỉ, các trừng phạt,... Ví dụ: khi thực thi chế độ tình trạng khẩn cấp, thì nhiều quyền và tự do của công dân bị hạn chế ở mức độ nhất định. Bằng cách như vậy, các khả năng làm thỏa mãn các lợi ích của công dân đã bị thu hẹp. Chế độ quân sự cũng thuộc loại này. Chế độ đó bao gồm các biện pháp hạn chế pháp luật khác nhau nhằm tạo ra các điều kiện để tấn công hoặc ngăn chặn sự xâm lược chống đối Việt Nam.
Có thể xây dựng chế độ pháp luật hạn chế cả đối với các cơ quan quyền lực nhà nước. Chế độ pháp luật đó bao gồm các công cụ đầu tiên tương ứng với tư cách là các công cụ thống trị (các điều cấm, các nghĩa vụ, các biện pháp trách nhiệm, v.v.) để giảm thiểu tối đa sự lạm dụng quyền lực từ phía những cán bộ, công chức, tập trung toàn bộ năng lượng, khả năng, nghị lực, trách nhiệm của họ để giải quyết những nhu cầu thiết yếu của xã hội, bảo đảm các lợi ích của công dân Việt Nam.
Tùy thuộc vào tính chất, các chế độ pháp luật khuyến khích và các chế độ pháp luật hạn chế có thể là các chế độ pháp luật khuyến khích vật chất và các chế độ khuyến khích tố tụng. Chẳng hạn, chế độ pháp luật khuyến khích tố tụng tạo ra bầu không khí của trật tự được điều chỉnh rõ ràng trong việc xem xét vụ việc pháp lý và của việc đạt được kết quả cao nhất của nó. Kết quả đó đã được quy định quy phạm nhất định chương trình hóa; đó là hoàn cảnh tổ chức quy phạm của việc giải quyết vụ việc pháp lý. về mặt cấu trúc, chế độ pháp luật tố tụng bao gồm các nguyên tắc của hoạt động tố tụng, các phương thức thực hiện các hoạt động (hành vi) tố tụng, các bảo đảm cho hoạt động tố tụng, cũng như quy chế pháp luật của các chủ thể của tố tụng pháp lý. Có thể nêu các chế độ tố tụng như: chế độ của các nguyên đơn trong tố tụng dân sự, chế độ của điều tra viên trong tố tụng hình sự, chế độ tố tụng trọng tài điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Việc phân loại phổ biến nhất các chế độ pháp luật khuyến khích và các chế độ pháp luật hạn chế là theo đối tượng điều chỉnh, tức là theo các ngành pháp luật. Theo đó, có các chế độ pháp luật hình sự, các chế độ pháp luật dân sự, các chế độ pháp luật hôn nhân và gia đình, các chế độ pháp luật môi trường, các chế độ pháp luật thuế, các chế độ pháp luật hải quan và các chế độ pháp luật khác.
Chế độ pháp luật phần lớn do bản chất của ngành pháp luật, các chức năng và các nhiệm vụ của nó quy định. Có thê’ lấy pháp luật thi hành án hình sự làm ví dụ. Chẳng hạn, nếu pháp luật thi hành án hình sự là ngành pháp luật bảo vệ, hạn chế, thì chế độ pháp luật đối vói những người bị kết án trong mọi trường hợp ở các phương án và các loại khác nhau của nó là chế độ tương ứng, bởi vì, chế độ đó là hình thức thực hiện hình phạt. Chế độ như vậy, theo chức năng tiền định của mình không được thay đổi một cách cơ bản, bởi chức năng chính của nó là sự hạn chế tự do, là nguồn của những tước đoạt nhất định. Tên của hình phạt - hình phạt tù, tự nó đã nói lên điều đó.
Đồng thời, trong phạm vi của chế độ pháp luật hạn chế đó đối với người bị kết án có thể và cần phải nói về sự tăng cường các biện pháp khuyến khích này hay các biện pháp khuyến khích khác: về việc mở rộng hơn các quyền, tự do, các ưu đãi, các khuyến khích và các quyền, tự do, các tru đãi, các khuyến khích đó cần phải trở thành cái bô’ sung cho các cơ chế kìm giữ. Chính bằng phương thức khuyến khích đó có thể mong đợi các kết quả tốt đẹp trong giáo dục và cải tạo những người bị kết án. Sự bảo vệ và giám sát tạo ra các phạm vi bên ngoài mà trong giới hạn của chúng người bị kết án có thể điều chỉnh hành vi của mình khi không vi phạm chế độ. Tuy vậy, tự mình các hạn chế đó không thế tác động có hiệu quả đến hành vi nếu như không có khả năng áp dụng một cách họp lý các biện pháp khuyến khích nhằm lôi kéo và sử dụng động lực bên trong của chính người bị kết án để giáo dục, cải tạo họ.
Đồng thòi, khi mở rộng các biện pháp khuyến khích pháp luật, thì các biện pháp đó cũng không được thay thế các biện pháp chính trong chế độ đó là các biện pháp hạn chế. Trong trường hợp ngược lại sẽ tạo ra tình huống mất cân đối của những khuyến khích và của những hạn chế trong chế độ pháp luật của người bị kết án, điều đó sẽ mâu thuẫn với bản chất hạn chế có từ xa xưa của ngành luật đó, ngành luật mà ở đó chế độ pháp luật đó "sống và làm việc".
7. Kết thúc vấn đề
Như vậy, bằng khái niệm "chế độ pháp luật" chúng ta làm rõ hơn đặc điểm của điều chỉnh pháp luật đối với lĩnh vực quan hệ xã hội nhất định vói sự hỗ trợ của các phương tiện pháp luật khác nhau. Thông thường, các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau đòi hỏi phải có sự kết hợp khác nhau các phương thức, phương pháp, loại điều chỉnh pháp luật. Sự đa dạng của các chế độ pháp luật được thê’ hiện cả trong từng ngành pháp luật, lẫn trong hệ thống pháp luật nói chung.
Từ quan điểm của cách tiếp cận tâm lý - thông tin có thể coi chế độ pháp luật là một loại tác động pháp luật đặc thù. Loại tác động pháp luật này được thể hiện trong tổng thể nhất định các khuyến khích pháp luật và các hạn chế pháp luật. Mọi nhà nước trong các chế độ chính trị khác nhau đều sử dụng các chế độ pháp luật được hình thành từ các khuyến khích pháp luật và các hạn chế pháp luật nhất định tương ứng với nhà nước. Điều chỉnh pháp luật, đến lượt mình, phần lớn được hình thành từ các chế độ pháp luật nhất định đối vói các chủ thể này hay các chủ thê’ pháp luật khác.
Trong phạm vĩ của chính sách pháp luật, các chế độ pháp luật được sử dụng rất rộng rãi và tích cực với tư cách là các phương tiện tổng hợp (bao gồm các phương tiện đầu tiên: những sự cho phép, các nghĩa vụ, các điều cấm, các ưu đãi, các khuyến khích, các hình phạt, các biện pháp tạm dừng...) để đạt được những mục tiêu nhất định đã được đặt ra.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).