1. Mở đầu vấn đề

Trong những năm gần đây, quan hệ thương mại quốc tế và các chính sách thương mại cơ bản đã thu hút được sự chú ý, mối quan tâm ngày càng tăng và tầm quan trọng ngày càng tăng đối với các chính phủ cũng như các chủ thể liên quan khác. Và có lẽ quan trọng nhất là đối với công chúng hay tầng lớp dân sự (Civil Soci­ety).

2. Đôi nét về WTO - Tổ chức thương mại thế giới

Hơn thập kỷ qua, và đặc biệt từ sau khi thành lập WTO năm 1995, nhiều vấn đề thương mại đa phương thường được nêu thành tin quan trọng trên các phương tiện truyền thông đại chúng và thường được bàn cãi công khai.

Kết thúc vòng đàm phán Uruguay, WTO cuối cùng được thành lập năm 1995 sau gần một nửa thế kỷ trì hoãn và trở thành cột trụ thứ 3 của cơ cấu tài chính và kinh tế toàn cầu, hoặc còn được gọi là các thê chế Bretton - Wood, cùng với hai cột trụ khác là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển, IBRD).

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế toàn cầu duy nhất xử lý các quy tắc thương mại giữa các quốc gia. Trọng tâm của nó là các hiệp định WTO, được đàm phán và ký kết bởi phần lớn các quốc gia thương mại trên thế giới và được quốc hội của họ phê chuẩn. Mục tiêu là đảm bảo rằng thương mại diễn ra suôn sẻ, dễ đoán và tự do nhất có thể.

WTO cung cấp một diễn đàn để đàm phán các hiệp định nhằm giảm bớt những trở ngại đối với thương mại quốc tế và đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi người, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. WTO cũng cung cấp khuôn khổ pháp lý và thể chế để thực hiện và giám sát các hiệp định này, cũng như để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc giải thích và áp dụng các hiệp định này. Cơ quan hiệp định thương mại hiện tại bao gồm WTO bao gồm 16 hiệp định đa phương khác nhau (mà tất cả các thành viên WTO đều là thành viên) và hai hiệp định đa phương khác nhau (chỉ một số thành viên WTO là thành viên).

Trong 60 năm qua, WTO, được thành lập vào năm 1995, và tổ chức tiền thân của nó là GATT đã giúp tạo ra một hệ thống thương mại quốc tế mạnh mẽ và thịnh vượng, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu chưa từng có. WTO hiện có 164 thành viên, trong đó 117 nước là các nước đang phát triển hoặc các vùng lãnh thổ hải quan riêng biệt. Các hoạt động của WTO được hỗ trợ bởi Ban Thư ký gồm 700 nhân viên, do Tổng Giám đốc WTO đứng đầu. Ban Thư ký đặt tại Geneva, Thụy Sĩ và có ngân sách hàng năm khoảng 200 triệu CHF (180 triệu đô la, 130 triệu euro). Ba ngôn ngữ chính thức của WTO là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha.

Các quyết định trong WTO thường được đưa ra bởi sự đồng thuận của toàn bộ thành viên. Cơ quan thể chế cao nhất là Hội nghị Bộ trưởng , họp khoảng hai năm một lần. Một Hội đồng chung tiến hành công việc kinh doanh của tổ chức trong khoảng thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng. Cả hai cơ quan này bao gồm tất cả các thành viên. Các cơ quan chuyên môn trực thuộc (Hội đồng, Ủy ban, Tiểu ban), cũng bao gồm tất cả các thành viên, quản lý và giám sát việc thực hiện của các thành viên trong các hiệp định khác nhau của WTO.

Cụ thể hơn, các hoạt động chính của WTO đó là:

- Đàm phán về việc giảm hoặc loại bỏ các trở ngại đối với thương mại (thuế nhập khẩu, các rào cản khác đối với thương mại) và đồng ý về các quy tắc điều chỉnh hành vi thương mại quốc tế (ví dụ như chống bán phá giá, trợ cấp, tiêu chuẩn sản phẩm, v.v.)
- Quản lý và giám sát việc áp dụng các quy định của WTO các quy tắc đã nhất trí đối với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
- Giám sát và xem xét các chính sách thương mại của các thành viên, cũng như đảm bảo tính minh bạch của các hiệp định thương mại khu vực và song phương
- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của chúng tôi về việc giải thích và áp dụng các hiệp định
- Xây dựng năng lực của các quan chức chính phủ nước đang phát triển trong các vấn đề thương mại quốc tế
- Hỗ trợ quá trình gia nhập của khoảng 30 quốc gia chưa là thành viên của tổ chức
- Thực hiện nghiên cứu kinh tế và thu thập và phổ biến dữ liệu thương mại nhằm hỗ trợ các hoạt động chính khác của WTO
- Giải thích và giáo dục công chúng về WTO, sứ mệnh và các hoạt động của nó.

Song song với sự phát triển này và có lẽ cũng là hậu quả tất yếu, việc liên kết giữa chính sách thương mại với các lĩnh vực chính sách khác nhau thường được đều đặn giới thiệu trong các cuộc thảo luận và đàm phán liên quan đến thương mại quốc tế. Kết quả của xu thế này, các nhà đàm phán thương mại ở WTO và ở nơi khác đã liên kết cùng đồng nghiệp của họ trong các lĩnh vực chính sách khác nhau của việc điều hành quốc gia, hoặc cùng các chuyên gia của các tổ chức quốc tế khác. Đồng thời, tất cả các cuộc thảo luận, đàm phán liên quan đến thương mại ngày càng được giám sát chặt chẽ hơn bởi các phương tiện thông tin đại chúng hùng mạnh đang ngày càng phát triển, bởi sự nảy nở hàng loạt các nhà vận động hành lang cũng như bởi một “tầng lớp dân sự” hầu hết là đại diện của nhiều Tổ chức phi chính phủ (NGOs).

3. Mục đích của các chủ thể trong chính sách thương mại quốc tế

Tất cả những chủ thể đề cập ở mục hai trên, trong lĩnh vực chính sách thương mại, có lẽ có trong tay những kế sách khác nhau, nhưng tất cả những chủ thể ấy đều nhằm một mục đích tối hậu là cố gắng bảo vệ quyền lợi riêng của họ. Việc đó được thực hiện bởi sự chi phối quá trình “hoạch định” chính sách thương mại, việc phát triển các mối quan hệ thương mại và các quy tắc mới, cũng như việc tiếp tục thực hiện quá trình tự do hoá thương mại. WTO tạo ra một sân chơi toàn cầu nhưng đồng thời vẫn có các sân chơi song phương, sân chơi cấp khu vực hoặc cấp quốc gia. Có sự căng thẳng giữa các bên đàm phán cũng là điều bình thường, nhưng như chúng ta đã nhận thấy trong những năm gần đây, các cuộc đàm phản thương mại có thể gây ra sự lo ngại to lớn đối với nhiều chủ thể khác trong xã hội. Tăng cường sự minh bạch và hài hoà tất cả quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình đàm phán là cách thức ứng xử có tầm quan trọng to lớn trong tầng lóp dân sự, nhưng những hạn chế về luật phâp hay thực tế thường ngăn cản quấ trình “mở cửa” ở mức độ làm thoả mãn tất cả. Tình trạng khó xử này cũng đã được WTO và các thành viên ghi nhận. Họ đang tích cực cố gắng tìm ra cách thức và phương tiện mới để quảng bá hình ảnh chung của WTO và chính sách thương mại quốc tế.

4. Đặc điểm của các tổ chức trong thương mại quốc tế

Công trình “kiến trúc” của các quan hệ thương mại quốc tế đang phát triển vững chắc, nhưng suốt thập kỷ qua nó đã trải qua những biến đổi sâu sắc làm phức tạp thêm việc quản lý các quan hệ thương mại quốc tế, khu vực và quốc gia cùng hàng loạt quá trình hoạch định chính sách thương mại. Trong bối cảnh này, sẽ là ảo tưởng khi muốn vẽ lên một bức tranh hoàn chỉnh về mọi sự phát triển đó.

Dưới đây là một vài đặc điểm chủ yếu:

- Những biến động lớn dẫn đến sự tan rã củạ Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống kinh tế và thương mại xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo ở châu Âu và câc nơi khác.

- Việc “nâng cấp” hệ thống hoạt động thương mại đa phương từ GATT sang WTO là kết quả của Vòng Uruguay cùng sự hội nhập tốt hơn của các nước đang phát triển vào tổ chức này.

- Sự tăng nhanh các hiệp định thương mại và hội nhập khu vực

- Việc tăng cường nhận thức về sự liên kết giữa chính sách thương mại và cấc chính sách khác như chính sách cạnh tranh, đầu tư và môi trường.

- Phát triển nhanh chóng công nghệ viễn thông và các mô hình mới trong thương mại quốc tế, cho phép tăng trưởng nhanh chóng thương mại dịch vụ và thương mại điện tử.

Tất cả những thay đổi này là chỏ đề để tích cực nghiên cứu và tranh luận về chính sách trong giới hàn lâm, cấc nhà làm chính sách và các chủ thể quan tâm khác cố gắng phân tích quá khứ hoặc dự báo tương lai trong một mức độ có thể được đêt có thể tăng tốc lộ trình để thay đoi hệ thống toàn cầu.

Ví dụ, đang có “xu hướng” nói về toàn cầu hoá vốn có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo quan điểm của từng người quan sát hiện tượng đó. Một định nghĩa chung nhất về toàn cầu hoâ xâc định đó là việc tăng cường sự chu chuyển toàn cầu về vón, hàng hoắ, dịch vụ, nhân lực, và các ý tưởng qua biên giói lãnh thổ. Toàn cầu hoầ được nói đến như một quá trình đang làm thay đổi sựtương tác của con người thông qua lĩnh vục kinh tế, chính trị và xã hội theo quy mô không gian, thời gian và tư tưởng.

Các nhà kinh tế và phân tích chính sách thương mại thường mô tả đặc điểm của hiện tượng này là “rút ngắn không gian, thời gian và làm mất đi các biên giới ”, bao gồm một cách lý tưỏng sự chu chuyển tự do của hàng hoá, dịch vụ, vốn và thông tin. Người ta có thể lập luận rằng tốc độ thay đôi ở nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế quá nhanh khiến cho sự phát triển về cơ cấu thể chế và các tiêu chuẩn gắn -liền vói hệ thống kinh tế và thương mại lại không thể thích ứng.

Những cuộc tranh cãi liên tiếp về việc tâi quản trị bộ mây toàn cầu đang tiếp diễn là sự đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng để ứng phó với việc tách rời giữa toàn cầu hoả thế giới với việc đề ra chính sách và đặt ra các quy tắc theo truyền thống trên bình diện quốc gia và quốc tế. Một ví dụ thực tế đã đề cập đến những thách thức do thương mại tăng trưởng nhanh chóng trong lĩnh vực dịch vụ hoặc trong thương mại điện tử đặt ra đối vói các quy tắc thương mại quốc tế. Đồng thời người ta chú trọng đến việc đánh giá các quy tắc thương mại, hoạt động thương mại hay tự do hoá thương mại bằng những tiêu chuẩn phi - kinh tế mới, như sự bề vững, hay ảnh hưởng của môi trường, sức khoẻ hoặc các giá trị đạo đúc.

5. Kết thúc vấn đề

Khi nói về toàn cầu hóa, chúng ta có gắng nắm bắt tính phức tạp của “sân chơi” này, trong đó tất cả các yếu tố kinh tế và chính sách khác cũng như các nước và các dân tộc đã trở nên gắn bó chặt chẽ hơn. Điều đó giống như việc sử dụng thuật ngữ “tương-thuộc” giữa các nền kinh tế thường xuyên dùng từ những năm 70 đê giải thích điều sau này được hiểu là “toàn cầu hoá”- mặc dù với phạm vi hạn chế hơn. Có lẽ có người lập luận rằng khái niệm “toàn cầu hoá” hiện nay đã được thử thách trong thực tế ở cấp khu vực thông qua sự phát triển các thoả thuận về kinh tế và hội nhập về chính trị. Nhiều bài học bổ ích được rút ra, ví dụ, trong 40 mươi năm hội nhập của châu Âu vừa qua và cấi mà ngày nay người ta biết đến là quá trình hài hoà về mặt pháp lý và chính sách của Liên minh châu Âu (EU).

Trên bình diện toàn cầu, những thách thức của toàn cầu hoá tất nhiên to lớn hon do có nhiều khác biệt về địa lý, văn hoá, tôn giáo, kinh tế, chính trị và câc yếu tố khác. Bất kỳ cố gắng nào nhằm hài hoà các chính sách và thông lệ quốc tế hoặc nhằm giói thiệu các quy tắc có tính ràng buộc quốc tế đều phải đối đầu với sự phức tạp của nhiều chủ thể và và những mối liên kết lẫn nhau về chính sách liên quan.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.