1. Mối quan hệ chính sách pháp luật và ý thức pháp luật

Chính sách pháp luật gắn liền chặt chẽ với phạm trù "ý thức pháp luật".

Ý thức pháp luật phản ánh sự hiểu biết về các giá trị pháp luật, các nguyên tắc pháp quyền (theo Võ Khánh Vinh: Nguyên tắc pháp quyên: Những vãn đê lý luận, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 4/2017), về pháp luật thực định (thực chứng) (theo Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 4/2017).

Chính sách pháp luật xuất phát, dựa vào, được thể hiện trong lĩnh vực ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật, do vậy, nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật trong xã hội sẽ tạo ra nền tảng, môi trường cho việc xây dựng, thực hiện chính sách pháp luật. Chính sách pháp luật bao quát lĩnh vực ý thức pháp luật. Từ cách đặt vâh đề và trong chiều cạnh như vậy tác giả luận bàn khái quát về ý thức pháp luật.

Chính sách pháp luật, pháp luật trong một quốc gia không thể sống và được áp dụng bên ngoài ý thức pháp luật đang sống, đang tồn tại trong quốc gia đó. Vậy ý thức pháp luật là gì?

2. Bản chất ý thức pháp luật

Trong sách báo pháp lý, ý thức pháp luật được giải thích với tư cách là một hình thái của ý thức xã hội, điều đó khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào cơ sở hạ tầng, các điều kiện vật chất trong hoạt động sống của con người.

Hiển nhiên rằng, sự chuyển động của nhận thức từ cơ sở hạ tầng đến ý thức pháp luật của con người riêng biệt không thể được coi là phương thức duy nhất, hay là phương thức tốt nhất của việc thâm nhập vào điều bí mật của hiện tượng đó. Đồng thời, các nhà khoa học cũng không thể không thừa nhận sự ảnh hưởng nhất định của các điều kiện vật chất đến các hình thức và các loại hoạt động sống xã hội của mọi người và đến ý thức của họ. Nhưng đến hiện nay tính chất của sự ảnh hưởng đó phần lớn vẫn chưa được giải thích.

Rất có thể, phương thức sản xuất vật chất sinh ra nhu cầu nhất định về một kiểu cá nhân nào đó (người lao động), nhưng chẳng lẽ chính kiểu cá nhân chỉ được hình thành bởi phương thức sản xuất vật chất. Ở đây, đạo đức, chính trị, tôn giáo, pháp luật và cuối cùng chính cá nhân có vai trò của mình. Điều đó có nghĩa rằng, không chi phương thức sản xuất vật chất mà cả hệ tư tưởng, đạo đức, chính trị, pháp luật cũng tác động rất lớn đến ý thức pháp luật của cá nhân.

Để nhận thức được cơ chế hình thành ý thức pháp luật của cá nhân cụ thể nào đấy (hoặc của tầng lớp nào đấy) thì việc có được hiểu biết như vậy vẫn chưa đủ. Cần phải đi đến trình độ lập luận tiếp theo - trình độ lập luận đòi hỏi phải có hệ thống các phạm trù và các khái niệm khác. Trong trường hợp này, tất cả các yếu tố bằng cách này hay cách khác tác động đến sự xuất hiện và phát triển ý thức pháp luật cần được phân chia thành hai nhóm cơ bản.

3. Các nhóm yếu tố tác động đến sự xuất hiện và phát triển ý thức pháp luật

- Nhóm yếu tố thứ nhất vận động, tác động trong chính con người.

- Nhóm yếu tố thứ hai bao giờ cũng vận động, tác động ở bên ngoài con người.

Ví dụ: các kênh và các nguồn thông tín pháp luật trong xã hội.

Nếu như không lâm vào quan điểm siêu hình, máy móc, có thể nhìn thấy rằng, sự tác động của mọi yếu tố bên ngoài đối với một con người riêng biệt đều được trung chuyển bằng thế giới nội tâm của nó. Hơn nữa, không chỉ có thể nói về sự trung chuyển mà còn có thể nói về sự tuyển chọn có ý thức bởi chính con người các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nó - trong mọi trường hợp, đó là tính chất và công suất của sự tác động đó.

Trong nhóm yếu tố thứ nhất, trước hết, cần quan tâm đến yếu tố kinh nghiệm sống của con người. Sự chín muồi về mặt xã hội của con người là sự thể hiện của kinh nghiệm. Chính kinh nghiệm theo cấu trúc của mình là không giống nhau: nó có thể bao gồm các khối rập khuôn, khuôn mẫu, các phạm trù của ý thức tập thể, v.v. và dường như là "tầng trên cùng của kinh nghiệm sống". Nhưng kinh nghiệm như vậy tích lũy được, chứa đựng các quan điểm, các đánh giá, các giá trị mang tính cá nhân, cá thể sâu sắc, đồng thời với 'Tóp trên cùng" các quan điểm, các đánh giá, các giá trị đó tạo thành thế giới bên trong của con người - nguồn tự do bên trong của nó. Ý thức pháp luật của con người nằm trong thế giới nội tâm của nó - thế giới tạo thành thực thể của ý thức pháp luật hiện thực của con người.

Cho dù có các yếu tố bên ngoài khác nhau tham gia vào sự hình thành ý thức pháp luật, nhưng lôgic của sự tác động bên ngoài của các yếu tố đó đến con người nói chung được làm sáng tỏ. Dường như con người chịu tất cả sự tác động bên ngoài thông qua thế giới bên trong của mình và mức độ thâm nhập của các xung lượng bên ngoài vào con người tùy thuộc vào độ sâu sắc của thế giói bên trong.

Trong sự tương tác đồng thuận, hài hòa của sự tác động bên ngoài và của kinh nghiệm sống, con người "hấp thụ được" những giá trị nào đó của sự tác động bên ngoài, làm cho những giá trị đó biến thành yếu tố của thế giới bên trong của mình và đến lượt mình đưa mình vào môi trường bên ngoài, bằng ý thức pháp luật của mình đặt mình vào đời sống pháp luật và tham gia một cách đúng đắn vào việc xây dựng nên đời sống pháp luật.

Không có con người không có ý thức pháp luật, nhưng có nhiều người có ý thức pháp luật hạn chế, vô tình, què quặt. Nếu như con người lãng quên về ý thức pháp luật của mình và coi thường nó, để cho nó được hình thành và biểu hiện như thế nào cũng được thì ý thức pháp luật của người đó cũng không thể biến mất và cũng không thể dừng tác động đến hành vi và định hướng đời sống của người đó.

Khi nói đến ý thức pháp luật tập thể cần phải hiểu rằng, bản chất của trình độ ý thức pháp luật này có cả tính đơn giản lẫn tính phức tạp hơn. Ở trình độ này các ý thức pháp luật riêng biệt được liên kết với nhau thành một cấu thành chỉnh thê’ nào đó. Sự liên kết có thể được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, từ sự cùng tồn tại không có sự kết nối chặt chẽ cho đến sự thống nhất chân chính. Ý thức pháp luật có được sự thống nhất chân chính chỉ diễn ra khi và chỉ khi mọi người được liên kết lại xung quanh các tư tưởng, các nguyên tắc, các mục tiêu và giá trị nào đó, nhận thức được các nhu cầu chung của mình, ví dụ, sống trong một trật tự nhà nước nhất định, có được một nhóm quyền và tự do nhất định,... Sự tôn trọng các tư tưởng, các nguyên tắc, các mục tiêu và giá trị kiểu như vậy cần phải được nhà nước phát triêh và là bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức và mọi công dân. Chính sách pháp luật phải có nhiệm vụ ghi nhận, củng cố và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc, các mục tiêu và giá trị đó.

Không thể có được sự nhận thức sâu sắc về đời sống và ý nghĩa của hình thức nhà nước ở bên ngoài ý thức pháp luật, bởi vì, mọi hình thức nhà nước trước hết là "kết quả" hoặc là "tác phẩm" của ý thức pháp luật, tất nhiên, không phải của ý thức pháp luật cá nhân, mà là của ý thức pháp luật của nhiều cá nhân sống giống nhau và của ý thức pháp luật cá nhân giao tiếp lâu dài. Tâm hồn, tình cảm con người rất đa dạng, không giống nhau. Nhưng hoạt động tình thần của con người có thể có một số điểm giống nhau trong nền tảng, cơ sở và cấu trúc của mình, thêm vào đó sự giao tiếp lâu dài có thể làm gia tăng sự giống nhau đó. Lúc đó xuất hiện hiện tượng ý thức pháp luật quốc gia và hình thức nhà nước của nhân dân, xét về mặt lịch sử, đi ra từ đó.

Tính chất cộng đồng của ý thức pháp luật của mọi người thể hiện ở niềm tin sâu sắc vào pháp luật với tư cách là pháp luật. Mọi người dân tin tưởng rằng, pháp luật có khả năng làm cho xã hội công bằng, tin tưởng vào sự cần thiết của pháp luật trong xã hội.

Ý thức pháp luật tập thể cũng rất đa dạng, bao gồm ý thức pháp luật của các nhóm xã hội khác nhau. Sự liên kết của các nhóm xã hội cũng có thể khác nhau. Ý thức pháp luật nghề nghiệp của các nhà luật học bao giờ cũng ở trình độ cao, được tổ chức chặt chẽ hơn và dựa vào cơ sở pháp luật tương ứng và thực tiễn pháp lý hàng ngày. Ý thức pháp luật khoa học cũng rất đặc thù.

Những điều nói trên cho phép rút ra kết luận rằng, các loại ý thức pháp luật khác nhau là nền tảng tư tưởng bảo đảm cho sự phát triêh pháp luật trong mọi quốc gia, nhưng chỉ trong trường hợp, nếu như mỗi loại ý thức pháp luật vẫn tồn tại độc lập, giữ được các đặc điểm của mình, không bị hòa tan vào ý thức pháp luật xã hội.

4. Khái niệm ý thức pháp luật

Trên cơ sở của việc phân tích ở mục 3 trên cho phép định nghĩa ý thức pháp luật là các quan điểm, quan niệm, sự đánh giá xã hội (cá nhân, tập thế) về pháp luật, về các hiện tượng pháp luật từ quan điểm công bằng, tự do. Yếu tố quan trọng của ý thức pháp luật là các quan niệm của mọi người về việc pháp luật cần phải có và cần phải như thế nào. Hệ tư tưởng pháp luật quốc gia, chính sách pháp luật cần phải làm để mọi người tôn trọng pháp luật, giúp mọi người nhận thức và tiếp nhận được các giá trị pháp luật, các giá trị dân chủ cơ bản.

Ý thức pháp luật là cần thiết trong đời sống xã hội và đời sống chính trị. Hoàn toàn không đúng nếu cho rằng, từ ban đầu ý thức pháp luật đã thuộc về mọi người và là giống nhau. Để có được ý thức pháp luật cần phải có giáo dục pháp luật và củng cố ý thức pháp luật trong mọi người từ thời thơ ấu, cần phải gieo vào mọi người cảm giác tin tưởng vào pháp luật, có nhiệm vụ tôn trọng pháp luật.

5. Mối tương quan của ý thức và hành vi; Chính sách pháp luật

Trong sách báo pháp lý và tâm lý nước ngoài có nhiều cách tiếp cận và quan điểm về mối tương quan của ý thức và hành vi, của ý thức pháp luật và hành vi trong lĩnh vực pháp luật. Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng, trước khi hành vi được thực hiện, hành vì đó được hình thành trong ý thức của con người, trên cơ sở các thuộc tính của nó và các đặc điểm của môi trường bao quanh. Viện sỹ V.N. Kudrịavcev là tác giả của quan niệm đó - quan niệm xuất phát từ tính quyết định luận của hành ví của con người bởi ý thức của nó.

Các nghiên cứu đã chỉ ra sự tác động của ý thức pháp luật đối với hành vi, các mâu thuẫn giữa ý thức pháp luật và hành vi, cũng như sự tác động ngược lại của hành vi đối với ý thức pháp luật khi hành vi thể hiện vói tư cách là quá trình hình thành những hiểu biết và thái độ của cá nhân đối vói các hiện tượng pháp lý khác nhau.

Các nhà nghiên cứu luật học đã phân tích vai trò của ý thức pháp luật với tư cách là một trong những cái điều chỉnh cơ bản hành vi có ý nghĩa pháp lý của mọi người. Y thức pháp luật trước hết là phương tiện của việc công dân điều chỉnh có ý thức hành vi của mình phù hợp với các đạo luật. Ý thức pháp luật không chỉ đơn giản tạo điều kiện cho việc công dân ý thức được mục tiêu của hành vi có ý nghĩa về mặt pháp lý mà còn là nguồn và kênh nhất định của việc có được ý thức đó. Ý thức pháp luật trong sự tương tác với ý thức đạo đức sẽ tạo ra những tiềm năng, khả năng điều chỉnh sâu sắc hơn hành vi của con người. Do vậy, giáo dục ý thức pháp luật cần phải gắn liền với giáo dục đạo đức.

Quyền con người gắn liền chặt chẽ với ý thức pháp luật. Toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người chứng minh rằng, trình độ ý thức pháp luật trong xã hội gắn liền chặt chẽ với thái độ của nhà nước đối vói vâh đề quyền con người, trong đó có vấn đề sở hữu, cũng như với việc ở chừng mực nào pháp luật do nhà nước ban hành phù hợp với các quyền và tự do của con người, của công dân. Như vậy, quyền con người là điều kiện nền tảng của sự phát triển con người, là một trong những dấu hiệu đầu tiên của xã hội dân chủ, văn minh, pháp quyền. Mục tiêu của phát triển xã hội không được chỉ quy về phát triển kinh tế mà là phát triển con người.

Kết luận nêu trên dẫn đến kết luận khác không kém phần quan trọng rằng, để bảo đảm được sự cân bằng tối ưu giữa tinh thần và vật chất trong phát triêh xã hội, cần phải giải quyết những vấn đề kinh tế từ quan điểm đạo đức, quan điểm xã hội, quan điểm phát triển con người, quyền con người, tuy điều đó là rất khó khăn nhưng cần phải thực hiện.

Từ những phân tích trên có thể kết luận rằng, chính sách pháp luật trong nhà nước pháp quyền cần phải bao trùm hết tất cả các lĩnh vực của đời sống pháp luật, trong đó có lĩnh vực ý thức pháp luật mói đáp ling được nhu cầu phát triêh xã hội, đưa xã hội Việt Nam phát triển lên một nấc thang mới.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).