1. Khái niệm các phương tiện của chính sách pháp luật
Việc áp dụng cách tiếp cận phương tiện (công cụ) đến chính sách pháp luật cho phép làm sáng tỏ một cách đầy đủ nhất hiện tượng chính sách pháp luật và các loại chính sách pháp luật cụ thê^ chỉ rõ tiềm năng của chúng. Do vậy, cần phải có cách tiếp cận có lập luận khoa học hơn đến hệ thống các phương tiện mà với sự trợ giúp của chúng, chính sách pháp luật được hình thành và được thực hiện.
=> Các phương tiện của chính sách pháp luật là các công cụ và các hành vỉ được sử dụng để đạt được các mục tiêu và các nhiệm vụ của chính sách pháp luật, để thực hiện trên thực tê'các tư tưởng pháp luật mang tính chiên lược.
Các phương tiện của chính sách pháp luật không chỉ được quyết định bởi các mục tiêu, mà còn bởi các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu (các ưu tiên) và hướng đến việc bảo đảm thực hiện các mục tiêu và các ưu tiên đã được tuyên bố. Các công cụ (các quy định) và các hành vi (các kỹ thuật học) khác nhau có khả năng đạt được các lý tưởng cao cả đã được đặt ra của chính sách pháp luật, được thể hiện với tư cách là các phương tiện pháp lý.
2. Phương tiện công cụ của chính sách pháp luật
Các công cụ, với tư cách là các phương tiện của chính sách pháp luật, là các quy định quy phạm khác nhau. Các quy định quy phạm được phân biệt với nhau bởi tính động và tính tĩnh. Trước hết, đó là các quyền và các nghĩa vụ, các ưu tiên và các điều Cấm, các khuyến khích và các hình phạt, các chế độ pháp luật và các nguyên tắc pháp luật, các văn bản pháp luật và các chế định pháp luật,....
Điều quan trọng là cần phải hiểu rằng, các công cụ của chính sách pháp luật có tính chất nhiều cấp độ, do vậy cần phân loại các công cụ đó. Các công cụ của chính sách pháp luật có thể được phân thành các công cụ sơ đẳng (đơn giản) và các công cụ tổng hợp (phức tạp). Nếu như các công cụ sơ đẳng thể hiện với tư cách là các công cụ yếu tố, sơ đẳng, đơn giản nhất (đó là những sự cho phép, các điều cấm, tạm dừng, tạm hoãn và các công cụ khác) thì các công cụ tổng hợp được hình thành từ các công cụ yếu tố, sơ đẳng, đơn giản nhất và là các cấu thành pháp lý có các thành tố phức tạp (các chế độ pháp luật). Có thể phân ra cả các phương tiện rất phức tạp - các phương tiện bao gồm cả các công cụ đơn giản (sơ đẳng) lẫn các công cụ tổng hợp (phức tạp).
Chẳng hạn, đó là các cơ sở pháp luật. Các cơ sở pháp luật là hệ thống các nguyên tắc pháp luật và các văn bản pháp luật (các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản áp dụng pháp luật, các văn bản giải thích pháp luật, các văn bản hợp đồng và các văn bản pháp luật khác) tạo thành nền tảng pháp lý đê’ xây dựng và vận hành các chế định pháp lý - xã hội (ví dụ, quản lý nhà nước, quyền tư pháp, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, để tiến hành hoạt động pháp lý này hay hoạt động pháp lý khác, cơ sở pháp luật phòng, chống tham nhũng, cơ sở pháp luật phòng, chống khủng bố; cơ sở pháp luật phòng, chống ma túy V.V.).
Do đó, các nguyên tắc (công cụ đơn giản) và các văn bản pháp luật (công cụ phức tạp) là các bộ phận cấu thành của các cơ sở pháp luật. Các cơ sở pháp luật là các phương tiện rất phức tạp, và do vậy, là các phương tiện quan trọng nhất của chính sách pháp luật.
3. Phương tiện hành vi của chính sách pháp luật
Các hành vi, với tư cách là các phương tiện của chính sách pháp luật, là các kỹ thuật học này hay các kỹ thuật học khác, các văn bản đa dạng, khác nhau của sự thể hiện các quy định quy phạm trong đời sống. Đó là việc tòa án đưa ra quyết định, việc thẩm phán từ chối tham gia xét xử, việc ký kết hợp đồng, việc khiếu nại, tố cáo, việc ban hành quyết định bổ nhiệm giữ chức vụ nhất định, việc đưa dự án luật ra thảo luận, xem xét, việc không thông qua hoặc phủ quyết một đạo luật nào đó, sự thể hiện không tín nhiệm đối với Chính phủ, ...
Tất nhiên, thông thường, để thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên này hay các nhiệm vụ ưu tiên khác của chính sách pháp luật đòi hỏi phải có không chỉ một phương tiện mà là một hệ thống các phương tiện.
Ví dụ: Việc giải quyết nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của chính sách pháp luật - việc hạn chế về pháp luật đối với các cơ quan công quyền với mục đích ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực chỉ có thể được thực hiện với sự trợ giúp của một hệ thống các phương tiện pháp luật: từ các công cụ sơ đẳng đến các hành vi tương ứng. Do đó, việc sử dụng cách tiếp cận hệ thống trong việc hạn chế về pháp luật đối với các cơ quan công quyền cho phép coi các phương tiện hạn chế với tư cách là một hệ thống các yếu tố trong tổng thể các mối quan hệ và các mối liên hệ giữa chúng. Tất cả các bộ phận của hệ thống có mối liên hệ lẫn nhau và tác động lẫn nhau để hạn chế quyền lực.
Điều quan trọng là cần nhận thức, hiểu biết đúng về vị trí và vai trò của từng hạn chế pháp luật cụ thể và tổng thể trong hệ thống các hạn chế pháp luật. Đó là: (i) Các hạn chế pháp luật tổng thể được hình thành từ các hạn chế cụ thể như thế nào?; (ii) Các hạn chế pháp luật tổng thể có mối liên hệ với nhau như thế nào và trong quá trình đó các hạn chế pháp luật cụ thể đóng vai trò như thế nào? (iii) Các hạn chế pháp luật cụ thê’ có mối liên hệ với nhau như thế nào và ở đây các hạn chế pháp luật tổng thể đóng vai trò như thế nào?
3. Vị trí và vai trò của biện pháp trách nhiệm pháp lý
Các biện pháp trách nhiệm pháp lý có vị trí đặc biệt trong hệ thống các hạn chế pháp luật:
- Thứ nhất, chúng là phưong tiện bảo đảm, và phân lớn là phương tiện bảo đảm cho các hạn chế pháp luật khác đối với quyền lực nhà nước;
- Thứ hai, ờ mức độ nhất định chúng là công cụ pháp lý cuối cùng về lôgic trong hệ thống các hạn chế pháp luật (ở mức độ các chế tài);
- Thứ ba, chúng là các phương tiện "đau đớn" nhất đối với người có chức vụ, quyền hạn (cán bộ, công chức), bởi vì, chúng gắn liền với việc đưa đến những hậu quả pháp lý nghiêm khắc.
=> Sự hiện có các biện pháp trách nhiệm pháp lý cùng vói các phương tiện khác làm cho điều cấm trở thành phương tiện hiệu quả của điều chỉnh pháp luật. Trong pháp luật nước ta, các quy phạm về các điều cấm đối với cán bộ, công chức, viên chức, thông thường, không có các chế tài, do vậy, điều đó làm cho các quy phạm nói trên phần lớn trở thành các tuyên ngôn pháp lý thuần túy.
Tất cả các hạn chế pháp luật cụ thê’ và tổng hợp đối với các cơ quan công quyền được quy định như thế này hay như thế khác trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng: Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật.
Hiện nay, các hạn chế pháp luật đối với các cơ quan quyền lực nhà nước và những người có chức vụ, quyền hạn (vói mục đích không cho phép sự lạm dụng quyền lực) được quy định tương đối nhất quán và có căn cứ trong pháp luật hành chính và những quy định đó với Sự trợ giúp của các thủ tục tương ứng điều chỉnh quá trình cung cấp dịch vụ công cho dân cư, và bằng cách đó hạn chế được tính hách dịch, cửa quyền của một số cán bộ, công chức. Có rất nhiều văn bản như vậy đã được ban hành. Ngoài ra, các bộ, ngành, địa phương còn quy định nhiều điều cấm không được thực hiện đối với cán bộ, công chức khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cũng có ý nghĩa quan trọng.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước theo hướng hình thành Chính phủ điện tử - một nội dung quan trọng của cải cách hành chính, có ý nghĩa quan trọng đối vói việc kiêm, soát quyền hành pháp ở nước ta. Công nghệ thông tin đã làm đơn giản hóa các thủ tục, khắc phục được các chi phí không hiệu quả, giải phóng mọi công dân khỏi các trình tự, thủ tục rườm rà khi giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích của họ, cuối cùng làm cho công dân có cuộc sống dễ chịu, có chất lượng hơn.
4. Hạn chế của các phương tiện của chính sách pháp luật
Những vấn đề về bảo đảm công cụ của chính sách pháp luật cũng gắn liền với những hạn chế trong nội dung mục tiêu của chính sách pháp luật nước ta. Nếu như các định hướng vận động của chính sách pháp luật không rõ ràng, và hơn thế nữa, không có các định hướng như vậy, thì nhà làm luật không thê’ lựa chọn một cách có cơ sở "kỹ thuật" và "công nghệ" cần thiết, không thể tìm kiếm được "biện pháp" tối ưu về số lượng và chất lượng của công cụ pháp lý.
Chẳng hạn, nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật ở nước ta cho thấy, một trong những hạn chế, thiếu sót của chính sách pháp luật nước ta hiện nay là việc "thiếu hụt" các phương tiện đặc thù, tính không được bảo đảm công cụ của nhiều định hướng chính sách đã được đưa ra, việc thiếu vắng các cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện các định hướng đó, cũng như việc áp dụng các phương tiện đã quá lạc hậu, không có hiệu quả trong điều kiện hiện nay. Chẳng hạn, chúng ta tiến hành soạn thảo một số dự án luật trong một thời gian dài, nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua mà vẫn tiếp tục tranh luận chưa có sự kết thúc. Hơn nữa, một số ngành luật vẫn dựa vào các công cụ quá lạc hậu, không phản ánh tương ứng, kịp thời các hiện thực đã được hình thành, và do vậy, một số lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội không được phát triển tối ưu.
Xem xét chính sách pháp luật một cách rộng lớn, vói tư cách là hoạt động của Nhà nước để đạt được các mục tiêu có ý nghĩa đối với pháp luật, đối vói việc thực hiện các chức năng của mình chỉ trong sự phù họp với các giá trị pháp luật, tùy thuộc vào sự chiếm ưu thế của các phương tiện này hay các phương tiện khác: hoạt động mang tính chất "thuần túy" pháp luật và hoạt động mang tính tổ chức. Ở đây, việc giải quyết các vẩn dề được thực hiện bằng cách hướng đến hoạt động xây dựng pháp luật, thì đó là chính sách pháp luật "thuần túy".
Đặc điểm của các phương tiện pháp lý thể hiện ở chỗ, các phương tiện đó được ghi nhận rõ ràng và cụ thể trong các quy phạm pháp luật. Đó là các nghĩa vụ, các điều cấm, các hình phạt, các quyền, các ưu đãi, các khuyến khích, sự điều chỉnh bằng hợp đồng các quan hệ, ... Ở đây điều có ý nghĩa quan trọng là phải xác định được các mục tiêu chính trị pháp lý nào có thể đạt được với sự trợ giúp của việc xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật, còn các mục tiêu chính trị pháp lý nào có thể đạt được với sự trợ giúp của các cơ chế phi pháp luật khác (các cơ chếkinh tế, đạo đức, tâm lý,...).
Đồng thời, thực tiễn chỉ rõ rằng, không được thay đổi các phương tiện này bằng các phương tiện khác. Đặc biệt, không được thay đổi các phương tiện pháp luật để đạt được các mục tiêu này hay các mục tiêu khác bằng các phương tiện chính trị.
5. Kết thúc vấn đề
Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính sách pháp luật được hình thành về cơ bản từ các mục tiêu, các nhiệm vụ ưu tiên nhất định và các phương tiện phù hợp với các mục tiêu và các nhiệm vụ ưu tiên đó. Chỉ có thể nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc, có cơ sở khoa học về chính sách pháp luật khi nghiên cứu các mục tiêu, các nhiệm vụ ưu tiên đã được công bố và các phương tiện đã được lựa chọn để đạt được các mục tiêu và các nhiệm vụ ưu tiên đó.
Bởi vậy, khi xây dựng chính sách pháp luật cần phải xác định và chứng minh, trước hết, mục tiêu thống nhất, cao nhất được thực hiện bằng pháp luật và bởi các nhà luật học, tiếp đến, tìm kiếm các phương tiện đúng đắn, phù hợp để thực hiện mục tiêu đó.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).