Định nghĩa Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
Khái niệm quyền tác giả
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 về quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân được quy định cụ thể tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền:
– Đặt tên cho tác phẩm.
– Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
– Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
– Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Như vậy,
bảo vệ toàn vẹn tác phẩm là quyền nhân thân thuộc về tác giả. Tất cả những hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả. Các tác giả sáng tạo ra tác phẩm cần trang bị kiến thức Sở hữu trí tuệ để bảo vệ tác phẩm của mình tránh những hành vi xâm phạm.
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm thuộc nhóm quyền nhân thân được hình thành đầu tiên tại Pháp (Calvin D, 1999, tr. 422) và sau đó được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau. Đây là quyền phi kinh tế được coi là quyền gắn liền với mỗi cá nhân tác giả.
Nhà nước, các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm sử dụng phương thức, biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật chống lại mọi sự thay đổi nội dung cũng như hình thức của tác phẩm.
Chỉ khi có sự đồng ý của tác giả, thì mới được sửa đổi nội dung tác phẩm, sửa chữa, thay đổi tác phẩm gốc.
Trong trường hợp có đồng tác giả thì phải có sự đồng ý của tất cả các đồng tác giả, trừ khi tác phẩm có thể tách ra những phần riêng biệt của từng tác giả, được sử dụng độc lập hoặc các đồng tác giả có thỏa thuận khác.
Nội dung quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
Nội dung quyền này bao gồm quyền của người được thừa nhận là tác giả của tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền công bố tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm. Trong các quyền nhân thân đó, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm là quyền dễ bị xâm phạm nhất trong số các quyền nhân thân của tác giả, vì về nguyên tắc, Quyền tác giả (QTG) chỉ bảo hộ hình thức của tác phẩm.
Hình thức thể hiện của tác phẩm là sự diễn đạt, sắp xếp các bố cục của tác phẩm được thể hiện bằng các dạng ngôn ngữ, ký tự viết mà con người có thể đọc được, nhận biết được. Sự thay đổi các bố cục này: sắp xếp lại, bổ sung, cắt xén… sẽ dẫn đến sự thay đổi tác phẩm. Do vậy, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm – là quyền bảo vệ sự cố định của bố cục, diễn đạt tác phẩm có một vai trò rất quan trọng trong hệ thống các nhóm QTG.
Luật của Mỹ và Pháp không có định nghĩa cụ thể thế nào là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm mà chỉ quy định các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn của tác phẩm như điều L121-5 và L121-7 Bộ Luật Sở hữu trí tuệ Pháp 1992, điều 106 A Luật Bản quyền Mỹ năm 1976. Riêng mục (2a) điều 80 Đạo Luật Bản quyền, Thiết kế và Sáng chế 1988 của Anh có định nghĩa: “Hành vi xâm phạm quyền toàn vẹn của tác phẩm nghĩa là bất kỳ sự bổ sung, xóa, hoặc thay đổi, hoặc biến đổi để thích nghi của tác phẩm”.
Khoản 4 điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 (sửa đổi năm 2009, 2019) quy định về một trong những quyền nhân thân của tác giả là” Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Tuy nhiên, Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Sở hữu trí tuệ và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi về quyền tác giả và quyền liên quan tại quy định tại khoản 3 điều 20: “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính (CTMT) trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả”. Như vậy, Nghị định hướng dẫn thi hành đã bỏ đi yếu tố gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả và thêm vào tiêu chí phải có sự đồng ý của tác giả là thuận tiện hơn trong việc xác định hành vi vi phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Từ khái niệm đó, chúng ta có các tiêu chí xác định hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là: thứ nhất, có hành vi làm thay đổi nội dung của tác phẩm; thứ hai, không có sự đồng ý của tác giả.
Thế nào là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm?
Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo tinh thần, là một chỉnh thể thống nhất thể hiện nội dung, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của tác giả. Nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm gắn liền với uy tín và làm nên danh tiếng của tác giả. Khi sáng tạo ra tác phẩm, tác giả phải chịu trách nhiệm trước xã hội và những chủ thể khác về nội dung, chất lượng của tác phẩm. Việc người khác tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, thậm chí, làm sai lệch, bóp méo tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của họ. Do đó, cũng tương đồng với Công ước Berne, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định tác giả được quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm, bao gồm quyền bảo vệ tuyệt đối “đứa con tinh thần” của mình và ngăn cấm không cho chủ thể nào khác được làm thay đổi tác phẩm, kể cả trong trường hợp sự thay đổi đó, có thể làm tăng giá trị nghệ thuật hay thực tiễn của tác phẩm, trừ khi được tác giả đồng ý.
Trên thực tế, yếu tố “gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả” thường rất khó xác định. Bản thân giá trị của tác phẩm văn học nghệ thuật rất khó xác định vì không có tiêu chí chung để đánh giá. Việc đánh giá tác phẩm văn học, nghệ thuật chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan và quan điểm của mỗi người. Trong các vụ kiện tranh chấp liên quan đến quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, tác giả khó có thể thu thập và cung cấp được chứng cứ để chứng minh việc cắt xén, sửa chữa tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của mình. Hơn nữa, trong tình huống đó, quan điểm của tác giả và người sửa chữa tác phẩm thường không thống nhất. Người sửa chữa thì cho rằng, việc sửa chữa như vậy làm cho tác phẩm hay hơn, có giá trị hơn; ngược lại tác giả lại cho rằng, việc sửa chữa làm sai lệch ý tưởng của tác giả, làm ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị của tác phẩm. Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm cho đến nay vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong pháp luật cũng như thực tiễn tranh chấp về quyền tác giả trên thế giới cũng như Việt Nam.
Ví dụ 1: Vụ nhà điêu khắc Michael Snow kiện Trung tâm Eaton liên quan tác phẩm điêu khắc Flight Stop[3]. Năm 1979, Michael Snow, một nhà điêu khắc nổi tiếng thế giới người Canada được giao nhiệm vụ tạo ra một tác phẩm điêu khắc để lắp đặt tại Trung tâm Eaton - một khu phức hợp trung tâm mua sắm và cao ốc văn phòng lớn ở trung tâm thành phố Toronto. Tác phẩm điêu khắc có tên “Flight Stop” gồm 60 con ngỗng đặc trưng của Canada với nhiều kích cỡ khác nhau và ở tư thế đang bay. Tác phẩm điêu khắc này đã được tài trợ một phần từ tiền xổ số của địa phương và được người sở hữu Trung tâm Eaton mua lại, treo trên trần của phòng trưng bày bên trong khu phức hợp mua sắm dưới sự giám sát của Snow, kèm theo một tấm bảng ghi rõ Michael Snow là nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm điêu khắc kể trên. Tác phẩm điêu khắc nhanh chóng trở thành tiêu điểm của Trung tâm và nhận được nhiều lời khen ngợi từ công chúng và giới phê bình nghệ thuật.
Đến năm 1982, để đón đầu mùa mua sắm Giáng sinh, giám đốc tiếp thị của Trung tâm Eaton đã bắt đầu kế hoạch trang trí khu phức hợp bằng sáng kiến đeo 60 dải ruy băng màu đỏ lên cổ của 60 con ngỗng và sử dụng biểu tượng này trên các áp phích, biểu ngữ và túi mua hàng mà không hỏi ý kiến của Michael Snow. Tác giả đã khiếu nại yêu cầu người điều hành Trung tâm Eaton gỡ bỏ các dải ruy băng vì cho rằng, cách trang trí đó phá vỡ tính hài hòa tự nhiên của tác phẩm, làm thay đổi ý tưởng nghệ thuật của tác phẩm và làm ảnh hưởng đến danh tiếng nghệ thuật của ông. Tuy nhiên, người quản lý Trung tâm Eaton đã từ chối việc gỡ các dải ruy băng trang trí trên cổ các chú ngỗng với các lý do: Trung tâm đã chi một khoản tiền lớn cho việc quảng cáo liên quan đến biểu tượng này và tin rằng các dải ruy băng không hề làm giảm giá trị của tác phẩm như suy nghĩ của Michael Snow. Hơn nữa, tác phẩm “Flight Stop” là tài sản của Trung tâm Eaton, nên Trung tâm được quyền khai thác thương mại cho hoạt động của trung tâm mua sắm và tác giả Michael Snow đã biết về điều đó. Michael Snow đã khởi kiện đến Tòa án để buộc Trung tâm Eaton phải gỡ dải ruy băng với lập luận rằng việc gắn dải ruy băng là xâm phạm tính toàn vẹn và làm biến dạng tác phẩm của ông, căn cứ Điều 12(7) Luật Bản quyền tác giả của Canada năm 1970, trong đó nêu rõ: “Độc lập với bản quyền của tác giả và ngay cả sau khi chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần bản quyền nói trên, tác giả có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm, cũng như có quyền hạn chế mọi sự bóp méo, cắt xén hoặc sửa đổi khác đối với tác phẩm nếu điều đó gây phương hại đến danh dự hoặc danh tiếng của anh ta”. Một số chuyên gia trong giới nghệ thuật cũng ủng hộ quan điểm của Michael Snow khi họ cho rằng, việc trang trí những dải ruy băng đã bóp méo hình ảnh của tác phẩm, làm ảnh hưởng đến danh dự và danh tiếng nghệ thuật của Michael Snow. Ngược lại, một số khác lại cho rằng, những dải ruy băng không hề gây ra sự khó chịu và chỉ một “tuyên bố Giáng sinh vui vẻ”. Trong vụ việc này, Tòa án cho rằng, việc có vi phạm theo Điều 12 (7) Luật Bản quyền tác giả của Canada hay không phụ thuộc vào nhận thức của chính tác giả. Do đó, Tòa án ra phán quyết ủng hộ Michael Snow và lệnh buộc Trung tâm Eaton phải tháo gỡ dải ruy băng vì việc sửa đổi tác phẩm khi chưa có sự đồng ý của tác giả có thể bóp méo tác phẩm, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả.
Trong vụ việc kể trên, Tòa án đã áp dụng pháp luật với hai luận điểm quan trọng: (i) Tác giả có quyền bảo vệ sự toàn vẹn đối với tác phẩm, mọi sự cắt xén tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả có thể làm ảnh hưởng đến danh dự của tác giả và bị coi là xâm phạm; (ii) Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm độc lập với các quyền kinh tế thuộc quyền tác giả nên kể cả khi tác giả chuyển nhượng các quyền kinh tế thì tác giả vẫn được bảo lưu quyền này.
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn. Do đó, việc xác định hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm sẽ càng khó khăn hơn trong trường hợp tác giả đã qua đời. Ai sẽ là người chứng minh hành vi cắt xén, sửa chữa gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả và chứng minh như thế nào? Sau đây là một vụ kiện có liên quan.
Qua vụ kiện kể trên, chúng ta có thể nhận thấy, trên thế giới đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về việc xác định hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm: (i) Quan điểm thứ nhất tuyệt đối hoá quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, thể hiện trong phán quyết của Tòa án trong vụ kiện tác phẩm “Flight Stop”. Theo quan điểm này, mọi hành vi sửa chữa, thay đổi tác phẩm mà không được tác giả cho phép bị coi là xâm phạm quyền của tác giả, kể cả khi tác giả đã chuyển nhượng các quyền khai thác tác phẩm cho người khác, hay người sửa chữa là chủ sở hữu quyền tác giả. (ii) Quan điểm thứ hai lại mở ra một khả năng cho những người làm tác phẩm phái sinh khi họ có thể thay đổi tác phẩm gốc mà không bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, mặc dù quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền được bảo hộ vô thời hạn.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm kèm theo yếu tố “gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả”. Tiếp đó, khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, hành vi “sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Với những quy định trên có thể giải thích theo Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, hành vi sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm chỉ bị coi là xâm phạm khi tác giả chứng minh hành vi đó “gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả”. Với cách giải thích này, tác giả khó có thể kiện người khác xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của mình khi người này đưa ra lập luận việc họ sửa chữa để tác phẩm hay hơn, có giá trị nghệ thuật hơn, không xâm phạm đến danh dự, uy tín của tác giả. Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả hướng dẫn như sau: “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thỏa thuận của tác giả”. Theo quy định này, các hành vi sửa chữa, cắt xén tác phẩm mà không được sự chấp thuận của tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cần xem xét đến yếu tố có xâm phạm đến danh dự, uy tín của tác giả hay không. Quy định này đã giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho tác giả, đồng thời, đề cao quyền năng tuyệt đối của tác giả đối với “đứa con tinh thần của mình”. Chỉ có tác giả là người duy nhất của quyền quyết định về nội dung, hình thức thể hiện của tác phẩm, có quyền thay đổi hay cho phép người khác được sửa chữa sản phẩm sáng tạo của mình.
Có thể thấy, hướng dẫn tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP hiện nay không đồng nhất với quan điểm thể hiện trong khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. Dưới góc độ lý luận, có thể suy luận rằng, hành vi cắt xén, sửa chữa tác phẩm mà không xin phép tác giả đã gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả rồi, vì tác phẩm là sản phẩm sáng tạo của tác giả và tác giả là người duy nhất có quyền quyết định về sản phẩm sáng tạo của mình. Dưới góc độ thực tiễn, hướng dẫn tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP khiến cho quy định về quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm có tính khả thi, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả bảo vệ quyền nhân thân của mình. Với những lý do đó, tác giả ủng hộ cách tiếp cận theo khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, theo đó, hành vi sửa chữa, cắt xén tác phẩm mà không được tác giả cho phép là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cần xem xét đến yếu tố có xâm phạm đến danh dự, uy tín của tác giả hay không.