1. Cho vay lãi suất cao khi nào thì phạm luật ?

Tất cả các hình thức dụ dỗ người dân cầm cố tài sản thế chấp ngân hàng đều có chung một bản chất, đó là đánh vào lòng tham của bất kỳ ai muốn cho vay lãi suất cao, thời gian hoàn vốn ngắn. Song, phía sau "bức tranh" được thêu dệt đó là một cái bẫy với tỉ lệ thua thiệt gần như 99% của người cho vay vốn.

Tung những đòn gió ...

Mới đây nhất, gần chục hộ dân đã làm đơn tố cáo Công ty K.O. tại đường Phạm Thế Hiển, phường 5, quận 8, TP HCM do bà P. làm phó giám đốc. Bà P. đã vẽ ra nhiều viễn cảnh tốt đẹp cho sự phát triển của công ty mình. Nào là hiện tại trong tay bà đang nắm nhiều lô đất dự án ở những nơi đang “sốt” như ở Củ Chi, Bình Chánh và cần một số vốn đầu tư. Chưa hết, chỉ tay vào 3 căn nhà mặt tiền bề thế trên đường Phạm Thế Hiển, phường 7, quận 8, bà cho biết đó là những căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình.

Dù thông tin trên, những người dân chỉ nghe bà P. "nói" và chưa được kiểm chứng, nhưng họ đã tin "sái cổ". Thế là hàng loạt người đã "cắn câu" bà P. Cũng bởi mức lãi suất bà P. đưa ra khá cao, ở mức 10%/tháng, quả là nằm mơ khi chỉ trong vòng chưa đầy một năm, những hộ dân này có thể gom cả lãi lẫn lời. Không biết họ có biết rằng, theo mức quy định lãi suất cho vay tín dụng ở thị trường phi chính thức chỉ được vượt khung ngân hàng 3 lần vào thời điểm cho vay.

Thế là, họ đua nhau đưa giấy đỏ, giấy hồng và làm thủ tục bảo lãnh cho bà vay vốn bằng chính tài sản của mình. Khi cầm được sổ đỏ của những đối tượng bị mình lừa, bà P. tức tốc bằng những hình thức này, hình thức khác chiếm dụng quyền sở hữu để có trong tay một số tiền lớn.

Như trường hợp bà Đ.T.Tho với giấy chủ quyền của một người khác đứng tên, song bà Tho lại đưa cho bà P. giấy chứng nhận quyền sở hữu đất của mình nhờ làm dịch vụ vay thế chấp cho ngân hàng. Khi cầm được sổ đỏ trong tay, bà P. lại đem đi thế chấp vay tiền của một đối tượng khác. Sự việc trên vỡ lở, khi đến hẹn không thấy bà P. thực hiện đúng cam kết, những đối tượng cho bà P. vay đến nhà tìm thì mới biết bà P. đã bỏ trốn tự khi nào! Còn những dự án, những căn nhà mà bà P. từng nói thuộc quyền sở hữu của mình thì cũng chỉ là của người khác cầm cố cho bà P.

>> Luật sư tư vấn quy định pháp luật về lãi suất, gọi số: 1900.6162

Dù có "lừa" nhưng khó quy tội?

Đơn cử trường hợp vay nợ thường xảy ra nhất như của bà H., đã ngoài 70 tuổi, thường trú tại đường Huỳnh Tấn Phát, quận 7, TP HCM. Tại thời điểm này, bà H. có nhu cầu vay 5 tỉ đồng. Tuy nhiên, với số tiền lớn như vậy mà không có phương án kinh doanh cụ thể để trình ngân hàng xét duyệt thì cũng bằng 0. Thực chất, bà H. khao khát có số tiền trên để trả nợ tín dụng đen đến hồi phải trả. Hơn nữa, ngân hàng lại sợ bà H. lớn tuổi nên cũng khước từ cho vay.

Đến lúc này, bà H. phải cầu cạnh Công ty B.T. Khi nghe bà H. giãi bày tâm sự, Giám đốc Công ty B.T. cảm thông và lập một phương án kinh doanh cụ thể rồi đề nghị ngân hàng cho vay tiền. Sau đó Công ty B.T. ra ngân hàng làm thủ tục vay tiền dưới sự chấp nhận bảo lãnh tài sản của bà H.

Một thời gian sau, người ta mới biết bà H. bị phát mãi tài sản do không có khả năng trả nợ ngân hàng. Cũng đúng thôi, một khi đã vay tiền ngân hàng và không có một phương án kinh doanh cụ thể, "không chóng thì chầy" số tiền lãi hàng tháng phải trả đều đặn như thế bằng tiền vốn vay cũng sẽ tiêu tốn.

Dù sự việc trên đã có một kết thúc tốt đẹp, thế nhưng đến bây giờ nghĩ lại, ngân hàng chấp thuận cho vay theo dự án mà Công ty B.T. đưa ra đã bị một phen hú vía.

Nhìn nhận dưới góc độ về luật pháp, Luật sư Nguyễn Kiều Hưng phân tích: Bằng hình thức này, doanh nghiệp vừa có tiền để kinh doanh, lại vừa thu được phí dịch vụ, sau đó sẽ đem vốn vay được cho vay nóng để hưởng lợi. Khi có được số tiền lớn của nhiều người trong tay, doanh nghiệp kia có thể phủi tay bằng cách tuyên bố phá sản bất cứ lúc nào. Lúc này, người thiệt hại cuối cùng sẽ chính là những nạn nhân đã cho doanh nghiệp vay vốn "làm ăn". Bởi, việc nợ nần chồng chất của doanh nghiệp dẫn đến giải thể cũng khó có thể quy vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì, tất cả những sổ đỏ và hợp đồng bảo lãnh của người dân cho doanh nghiệp đứng tên vay ngân hàng cũng trên hình thức "tự giác tự nguyện". Việc thỏa thuận và hợp đồng bảo lãnh tài sản thế chấp ngân hàng giữa người dân với một doanh nghiệp thực sự còn nhiều kẽ hở. Khi soạn thảo hợp đồng, người dân thường nắm... đằng lưỡi do chính bản hợp đồng trên được phía công ty soạn sẵn, và người dân đóng vai trò bảo lãnh tài sản của mình thế chấp ngân hàng lại là người "điểm chỉ". Nếu xảy ra rủi ro, thiệt hại thuộc về người dân bởi họ là người đem tài sản ra thế chấp ngân hàng cho các doanh nghiệp vay.

Để thực hiện được một phi vụ vay "mượn" sổ đỏ cầm cố ngân hàng vay giùm cho một công ty hoạt động, nhất thiết phải có sự phối hợp "ăn ý" ở nhiều quy trình. Luật sư Trần Hồng Phong, Giám đốc Công ty Luật hợp danh Ecolaw cho biết: "Khi đặt bút ký kết các hợp đồng hợp tác với bất kỳ một đối tác nào, người dân cần đến các trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp lý, hội luật gia hoặc những công ty tư vấn luật để nhận được sự giúp đỡ. Tại đây, người dân luôn nhận được sự tư vấn miễn phí cho những hợp đồng kinh tế của mình. Chỉ khi soạn thảo hợp đồng, để quyền lợi cho thân chủ được đảm bảo nhất trước những rủi ro, các công ty mới tính phí tùy theo giá trị giao dịch và mức độ phức tạp của giao dịch".

Đã đến lúc, người dân cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về luật để có thể "đề kháng" trước những chiêu lừa sổ đỏ như hiện nay. Nhu cầu khát vốn của doanh nghiệp là có thật, song nạn lừa chiếm đoạt vốn "hợp pháp" mà thiệt hại là người dân luôn chực chờ bất cứ lúc nào để đánh vào lòng tham và sự thiếu hiểu biết.

Công ty luật Minh Khuê (Biên tập)

>> Xem thêm:  Cách tính số tiền phải trả cả gốc và lãi khi vay vốn sinh viên ? Điều kiện cho sinh viên vay vốn ưu đãi ?

2. Cơ chế điều chỉnh lãi suất cơ bản hiện nay là gì ?

Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá.

Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% – 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.

Từ tháng 5 – 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ "thắt chặt", các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm. Từ tháng 10/2008 đến nay, NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ "thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% – 13% – 11% – 8,5% – 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% – 13% – 12% – 9,5% – 8% – 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% – 11% – 12% – 10% – 7,5% – 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% – 14,3% – 13,5% – 11% – 9% – 8% – 7,5% – 7%/năm.

Từ thực tế diễn biến tiền tệ, lãi suất trong thời gian qua, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Một là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTMCP quy mô nhỏ chuyển đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy độïng vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định.

Hai là, cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất thị trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ đạo của NHNN; lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung – cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của NHNN, đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng.

Ba là, việc điều hành linh hoạt lãi suất cơ bản, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là "thắt chặt" hay "nới lỏng" tiền tệ, đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp, người dân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các NHTM quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.

Bốn là, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật ngân hàngBộ luật Dân sự, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay và các năm tới đây là kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững.

Tuy vậy, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của NHTM, có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. Xử lý vấn đề này, NHNN đã ban hành cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống và phát hành thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro. Hiện nay, đã và đang xuất hiện ý kiến cho rằng NHNN cần dỡ bỏ trần lãi suất cho vay = Lãi suất cơ bản x 150% mà để cho các NHTM được tự ấn định lãi suất kinh doanh. Ý kiến này cần được xem xét ở một số khía cạnh: (1) Theo kinh nghiệm của quá trình tự do hoá lãi suất ở các nước và nước ta trong nhiều năm qua cho thấy điều kiện để tự do hoá lãi suất là kinh tế vĩ mô ổn định, thị trường tài chính – tiền tệ minh bạch và có chiều sâu, mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát; phát triển hệ thống thanh toán có khả năng kiểm soát được hầu hết các luồng vốn khả dụng của khu vực ngân hàng, chứng khoán và các định chế tài chính khác; hệ thống NHTM có năng lực cạnh tranh và khả năng đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh; ngân sách nhà nước thâm hụt ở mức thấp. Với các điều kiện này, có lẽ nền kinh tế và thị trường tài chính – tiền tệ của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được; (2) Khủng hoảng tài chính thế giới đã trải qua tình trạng tồi tệ nhất, nhưng suy thoái và phục hồi kinh tế thế giới còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đối với kinh tế và thị trường tiền tệ trong nước, trước mắt cần thực thi các giải pháp tiền tệ theo hướng đảm bảo an toàn hệ thống; (3) Kinh tế trong nước, nguy cơ lạm phát cao chưa được ngăn ngừa một cách vững chắc, kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, hệ thống các NHTM còn chênh lệch lớn về quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản nợ và tài sản có; năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh và quản trị kinh doanh của các NHTM còn nhiều mặt hạn chế; (4) Thị trường hàng hoá, tài chính, tiền tệ, vàng, ngoại hối, bất động sản, chứng khoán còn chứa đựng những nguy cơ bất ổn do hiện tượng đầu cơ còn diễn ra khá phổ biến và các biện pháp điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước chưa đủ mạnh để có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế các hiện tượng này, sẽ kéo theo các rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thời gian tới – giai đoạn hậu suy giảm kinh tế, việc tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, cung – cầu vốn thị trường. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp, điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị trường tài chính – tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về vay vốn Học sinh, sinh viên như thế nào ? Chính sách vay ưu đãi cho sinh viên ?

3. Có nên bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản ?

Trong quá trình thảo luận dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi), có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản. Vấn đề được nhiều người quan tâm nhất hiện nay là bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng nhà nước? Theo dõi các phiên thảo luận của QH, tôi rất chú ý đến ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu “… lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa Ngân hàng trung ương với tổ chức t

Ngẫm nghĩ ý kiến này, tôi thấy rất tâm đắc và vì vậy, với tư cách là người đã “ở trong cuộc” được tham gia từ đầu việc xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước từ năm 1995, được QH thông qua năm 1997, tôi xin nêu một vài suy nghĩ của mình về vấn đề lãi suất cơ bản và “bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2009.

Lãi suất cơ bản là gì ?

Nhiều người đặt câu hỏi: Lãi suất cơ bản là gì? Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 cho ra một định nghĩa “… là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Với định nghĩa này, có hai vấn đề còn mập mờ và phiến diện.
Mập mờ vì “là lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố”. Vậy Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Vì lãi suất cơ bản không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ; không phản ánh được vai trò phát đi tín hiệu của chính sách tiền tệ, chưa kể đến việc hình thành nên nó còn thiếu cơ sở kinh tế. Tại sao là 6%? Tại sao là 8%? Có lúc Ngân hàng Nhà nước đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản là 7% thì có nhiều chuyên gia đề nghị xuống 5%… Con số này được dựa trên cơ sở nào?

Phiến diện ở chỗ lãi suất cơ bản chỉ “làm cơ sở” cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh của mình – mà không phải nó thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tổ chức tín dụng, một quan hệ không thể thiếu được trong thị trường tiền tệ. Lãi suất hình thành trên quan hệ này mới thực sự cần thiết cho việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Vậy mà quan hệ này, lãi suất cơ bản lại không phản ánh được, thì Ngân hàng Trung ương sử dụng lãi suất cơ bản để làm gì? Lãi suất cơ bản trở nên vô nghĩa trong tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, và càng không thể dùng lãi suất cơ bản để “làm cơ sở tính toán giới hạn lãi suất nhằm chống cho vay nặng lãi”.

Để điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương sử dụng nhiều công cụ, trong đó có công cụ là lãi suất.

Bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Lãi suất mà Ngân hàng Trung ương phát ra nhằm hai mục tiêu:

- Để phát đi tín hiệu Ngân hàng Trung ương đang thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt?
- Để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực sự giữa Ngân hàng Trung ương với các tổ chức tín dụng. Mối quan hệ này xảy ra hàng ngày.
Để đáp ứng được hai mục tiêu trên, Ngân hàng Trung ương thường dùng đến lãi suất tái cấp vốn hay, lãi suất tái chiết khấu, hay lãi suất liên ngân hàng, hay lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Theo thông lệ, Ngân hàng Trung ương phải công bố một hay hai trong số các lãi suất này.
Rõ ràng, những lãi suất kể trên là lãi suất được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ và trên quan hệ có thực, xảy ra hàng ngày giữa Ngân hàng Trung ương với tổ chức tín dụng; các nước hay sử dụng cụm từ chung là lãi suất chủ đạo. Như vậy, nếu so sánh về bản chất thì lãi suất cơ bản đã được quy định trong Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 khác xa về bản chất của các lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng…
Vì vậy lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần để điều hành chính sách tiền tệ và phải công bố là lãi suất tái chiết khấu hay lãi suất tái cấp vốn chứ không phải là lãi suất cơ bản.
Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 lại sử dụng khái niệm “lãi suất cơ bản”?
Trở về xuất xứ hình thành nên cụm
từ “lãi sut cơ bản” khi xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997, có mấy hoàn cảnh và tình thế đặc biệt buộc Ngân hàng Nhà nước phải sử dụng cụm từ lãi suất cơ bản là:
- Khi đó (1995-1997), thị trường tiền tệ của Việt Nam mới được hình thành, mọi công cụ đều mới ở giai đoạn bắt đầu, chập chững, không thường xuyên, không ổn định. Cái được gọi là lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn còn mới hình thành trên cơ sở “bốc thuốc” (vì thị trường tuy trên giấy tờ là có nhưng thực tế đã hoạt động đâu mà đo được quan hệ cung cầu?). Thị trường tín phiếu Kho Bạc thì lúc có lúc không.
- Hầu như tất cả các khoản cho vay của Ngân hàng Nhà nước cho vay các tổ chức tín dụng đều mang tính chất chỉ định: Chính phủ chỉ định được dùng bao nhiêu tiền, cho mục tiêu gì? Thì Ngân hàng Nhà nước “rót” tiền vào các mục tiêu đó. Vì vậy, cái gọi là lãi suất tái cấp vốn lúc đó cũng đều là lãi suất chỉ định.
- Ngay cả lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng trong thời gian đó cũng đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính (Ngân hàng Nhà nước quy định cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng) chuyển dần sang cơ chế theo hướng thị trường (lúc này Ngân hàng Nhà nước không quy định từng lãi suất huy động và cho vay cho tổ chức tín dụng nữa mà chuyển sang cơ chế quy định trần lãi suất cho vay, sàn lãi suất tiền gửi cho các tổ chức tín dụng).
- Trong những hoàn cảnh đó (thị trường tiền tệ chưa phát triển, công cụ lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn không thể phát huy tác dụng, vì nó được cho vay chỉ định với lãi suất chỉ định và cố định). Ngân hàng Nhà nước nghĩ ra một loại lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố được gọi là lãi suất cơ bản để giúp các tổ chức tín dụng sử dụng làm cơ sở cho việc hình thành lãi suất kinh doanh. Đây cũng là một cách để Ngân hàng Nhà nước “buông” dần việc can thiệp trực tiếp vào việc xác định lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng, là bước tiếp theo cho việc chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính, trực tiếp sang cơ chế thị trường để các tổ chức tín dụng tự định đoạt lãi suất kinh doanh của mình trên cơ sở lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước định hướng. Lãi suất cơ bản được hình thành trong hoàn cảnh như vậy và với mục đích như vậy.
Thực ra, đến lúc này, nếu hỏi lãi suất cơ bản là gì theo ý nghĩa kinh tế, thì cũng khó trả lời. Chỉ biết rằng, lúc đó Ngân hàng Nhà nước thảo luận nhiều và cuối cùng chọn cách hình thành lãi suất cơ bản trên cơ sở lãi suất cho vay tốt nhất của các Ngân hàng thương mại trên thị trường.
Đến đây, một câu hỏi nữa được đặt ra là: Đã qua 13 năm Luật Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực, lãi suất cơ bản có vai trò gì, có tác dụng gì?
Luật Ngân hàng Nhà nước được QH thông qua tháng 10.1997 đến tháng 10.1998 có hiệu lực. Từ cuối năm 1998 đến giữa năm 2000 – Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu để xây dựng cơ chế xây dựng và công bố lãi suất cơ bản, cho đến tháng 8.2000 – Ngân hàng Nhà nước mới chính thức công bố và từ đó đến nay lãi suất cơ bản có hiệu lực.

Để thấy rõ vai trò của lãi suất cơ bản , có thể phân ra làm hai giai đoạn:

Giai đoạn từ năm 2000-2007: Qua theo dõi thì thấy vai trò của lãi suất cơ bản rất mờ nhạt, thậm chí có những thời gian lãi suất cơ bản còn “hơi bị” lạc lõng. Qua nhiều đồ thị theo dõi diễn biến của lãi suất cơ bản và lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng thì nhiều khi hai đồ thị này diễn biến trái chiều nhau: Lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng thì lãi suất cơ bản lại có xu hướng giảm. Vì vậy, nhiều lúc chúng tôi cảm thấy lãi suất cơ bản không có tác dụng gì tới thị trường, kể cả vai trò định hướng.
Đến năm 2008, do diễn biến của nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều điều bất ổn, lạm phát gia tăng hai con số với tốc độ cao, kinh tế bắt đầu suy giảm, thị trường tiền tệ mất ổn định. Lúc đó Ngân hàng Nhà nước mới sử dụng lãi suất cơ bản và quy định của Bộ luật Dân sự để ổn định thị trường. Nhờ có thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cơ bản mà thị trường tiền tệ đã ổn định trở lại. Tuy nhiên, nếu lấy kết quả này để cố giữ lại lãi suất cơ bản như hiện nay thì lại không phù hợp chút nào. Vì nó có những mặt tiêu cực như sau:
- Dù lãi suất cơ bản có tác dụng trực tiếp với các tổ chức tín dụng nhưng nó vẫn không phải là lãi suất thực, việc hình thành nó vẫn trên cơ sở thiếu khoa học. Và cũng nên hiểu rằng lãi suất cơ bản và cơ chế trần cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản chỉ phù hợp với lúc thị trường không ổn định.
- Điều nguy hiểm hơn, ở Việt Nam lại quay trở lại cơ chế trần lãi suất, cơ chế hành chính trong điều hành lãi suất mà ta đã mất rất nhiều công sức để điều chỉnh thị trường bỏ dần cơ chế hành chính sang cơ chế lãi suất thị trường. Còn duy trì cơ chế này là đã lấy đi tính thị trường của lãi suất trên thị trường tiền tệ – là trái với các chủ trương, trái với chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010.
- Thực tế hiện nay, trần lãi suất cho vay, cho dù tăng hay giảm lãi suất cơ bản thì cũng là cái áo quá chật và quá cứng cho thị trường; mà thị trường thì yêu cầu có một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo, theo quan hệ cung cầu.
Vì vậy khi lãi suất cơ bản không có ý nghĩa kinh tế, là một lãi suất không có thực, không có tác động mang tính thị trường mà mang nặng tính hành chính thì nên bỏ – mà thay vào đó là lãi suất thực, lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước sử dụng thực sự trong mối quan hệ với các tổ chức tín dụng để thông qua đó mà điều tiết thị trường. Nhất là trong điều kiện hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã tiến sâu theo cơ chế thị trường, thị trường tiền tệ đã phát triển, hệ thống tổ chức tín dụng đã phát triển, các công cụ của thị trường cũng phát triển, hoàn cảnh và tình thế không còn giống thời kỳ năm 1997 nữa. Do vậy, không thể duy trì khái niệm lãi suất cơ bản như năm 1997 đã sử dụng; mà nên trả lại vị trí cho lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu như thông lệ các nước đang làm. Do vậy, quy định như Điều 15 trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) là hợp lý, đúng với nguyên lý và nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng Trung ương

(MLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Có được miễn giảm lãi của ngân hàng khi bị ảnh hưởng của dịch covid 19 ? Mức lãi suất cho vay ?

4. Tư vấn quy định về lãi suất ngân hàng ?

Chào Luật sư, Cho em hỏi năm vừa rồi em có vay ngân hàng số tiền là 30 triệu, em phải trả trong vòng 24 tháng, mỗi tháng em đóng 2647 ngàn, lãi suất 4,99%. Em đóng trễ hai tuần, ngân hàng đòi phạt em 450 ngàn, em không đóng vì em đã đóng 12 tháng rồi và số tiền em đóng lên tới 30 triệu. Nếu giờ em không đóng tiếp có phạm luật nhà nước không? Và lãi suất trên có phù hợp với quy định 476 không?
Mong Luật sư tư vấn giúp em.
Người gửi: Hoàng Anh

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn vay ngân hàng số tiền có giá trị 30 triệu với lãi suất 4.99% trong vòng 24 tháng tương đương với 1.497 triệu mỗi tháng tuy nhiên bạn nói mỗi tháng bạn đóng 2697 ngàn - số tiền này chúng tôi không hiểu rõ bạn tính thế nào.

Lãi suất cơ bản của nhà nước quy định tại thời điểm này là 9%/ năm, căn cứ vào điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì mức lãi suất cao nhất sẽ là 1,125%/tháng. Ngân hàng cho bạn vay với mức 4.99% vượt mức 1.125%/tháng, như vậy là họ đã cho vay nặng lãi, vi phạm về mức lãi suất nhà nước quy định. Nếu giao dịch của hai bên xảy ra tranh chấp mà có sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ áp dụng theo lãi suất Nhà nước quy định theo Bộ luật dân sự 2005.

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Về vấn đề phạt vi phạm, Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 có quy định như sau:

Điều 422. Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm

1. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.

3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.

Như vậy, việc phạt vi phạm chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận của các bên về mức phạt trong hợp đồng. Theo đó nếu hợp đồng vay của bạn và ngân hàng không có điều khoản phạt vi phạm thì ngân hàng phạt bạn 450 ngàn là không có căn cứ.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Vốn hóa chi phi lãi vay đầu tư thế nào ? Chính sách lãi suất theo quy định mới nhất hiện nay ?

5. Những điều cần phải biết về lãi suất khi kinh doanh ?

Câu hỏi đầu tiên trong kinh doanh được đưa ra thật tự nhiên, đơn giản với nghĩa là “tiền đâu”? Có rất nhiều nguồn vốn phục vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp bình thường, thật khó để “xoay” vốn trong thời kỳ lạm phát, kinh tế suy thoái.

Các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp bao gồm:

- Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp, người góp vốn (vốn điều lệ, vốn từ các quỹ và lợi nhuận để lại);

- Vốn vay ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển;

- Vốn vay thương mại gồm mua trả chậm của nhà cung ứng, bán hàng trong và ngoài nước và chiếm dụng vốn của người khác;

- Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền ký quỹ, đặt cọc, trả trước;

- Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác, trong đó có bạn bè, người nhà thân quen và CBNV trong doanh nghiệp;

- Vốn huy động từ các nguồn khác.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Chạy vốn, trốn nợ - Sợ lãi, hãi tiền

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa

Câu hỏi đầu tiên trong kinh doanh được đưa ra thật tự nhiên, đơn giản với nghĩa là “tiền đâu”? Có rất nhiều nguồn vốn phục vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp bình thường, thật khó để “xoay” vốn trong thời kỳ lạm phát, kinh tế suy thoái.

Vốn chủ sở hữu, không cứu được ai

Vốn chủ sở hữu dường như không bao giờ đủ để kinh doanh. Có 100 triệu đồng vốn, người ta sẽ muốn kinh doanh với 1 tỷ. Khi có đến 10 tỷ đồng, người ta lại muốn mở rộng kinh doanh lên 100 tỷ. Phần vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản. Đặc biệt trong thời kỳ khó tìm vốn, cái khó đầu tiên chính là không tăng được vốn chủ sở hữu, không bán được trái phiếu. Cổ phần, cổ phiếu hiện hữu đã khó chuyển nhượng, thì cũng rất ít khả năng được góp tăng thêm.

Kinh doanh mà không vay vốn, cũng đồng dạng với kiểu cá nhân đầu tư tiền gửi vào ngân hàng lấy lãi. Vay vốn nhiều đâu phải là không tốt. Số tiền vay cũng là một trong những yếu tố thể hiện sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp. Nước Mỹ là một nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia vay nợ nhiều nhất. Các ngân hàng là những chủ nợ lớn nhất đồng thời cũng là những con nợ lớn nhất. Phần lớn doanh nghiệp trông chờ vào vốn vay.

Vốn vay ngân hàng, càng ngày càng khó

Lãi suất vay ngân hàng lên đến 20% – 21%/năm, rất khó bảo đảm hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, vào thời điểm lãi suất tăng vọt như hiện nay, các doanh nghiệp lại không vay được vốn của ngân hàng, nếu không sẵn có tín nhiệm kèm theo phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả cao.

Trước khi cho vay, ngân hàng đã phải đi vay. Ngân hàng đang phải huy động vốn với lãi suất cao, thời hạn ngắn, số tiền ít. Có tiền rồi, ngân hàng cũng không muốn giải ngân, do kinh tế đi xuống, hiệu quả kinh doanh thấp, rủi ro cao, không an toàn cho đồng vốn. Lẽ ra trong trường hợp này, ngân hàng có thể chấp nhận rủi ro để cho vay với lãi suất cao hơn, nhưng lại bị Ngân hàng Nhà nước thắt chặt vòng kim cô nghiêm khắc hơn bao giờ hết, nên không có cách gì hóa giải bế tắc. Điều này được minh chứng thêm bằng cả một số ngân hàng mới ra đời cũng rất dè dặt trong cho vay.

Vì vậy, nếu nền kinh tế còn khó khăn, các doanh nghiệp đừng trông chờ nhiều vào ngân hàng, kể cả một số ngân hàng tuyên bố giảm lãi suất cho vay. Vì giảm lãi suất không dựa trên cơ sở cung cầu thật sự, trong khi đã đến thời kỳ nhiều khoản nợ đứng trước nguy cơ quá hạn; doanh nghiệp khó bán hàng trả nợ, chậm quay vòng vốn; Ngân hàng khó huy động vốn mới, khó thu hồi được vốn cũ, lại bị sức ép nợ xấu gia tăng, cũng khó có thể cho vay thêm.

Vốn vay thương mại, cũng lại cùng đường

Một trong những cách thức bán hàng tương đối phổ biến và hiệu quả khi thuận buồm, xuôi gió là bán chịu, ký gửi. Nhưng lúc này, ngân hàng thúc nợ, cả một chuỗi nhà cung cấp không cho chậm trả, rồi hàng hóa khó bán, chậm tiêu thụ, tín dụng thương mại cũng nhanh chóng bị thu hẹp tối đa.

Hoạt động kinh tế đương nhiên là đan xen, phụ thuộc lẫn nhau. Rất nhiều doanh nghiệp sống khoẻ nhờ nguồn vốn từ mua hàng trả chậm, trả dần, kéo dài thời hạn thanh toán, chiếm dụng vốn của người khác. Tuy nhiên, hiện nay, mong muốn trả chậm của người này sẽ gặp phải sự cảnh giác, đối phó của người khác, không dễ gì mở hầu bao của nhau. Trong thời buổi khó khăn, các doanh nghiệp đều muốn nhanh chóng thu hồi vốn bán hàng, hạn chế tối đa việc kéo dài nợ nần dây dưa. Xem ra chủ yếu là người đòi nợ và kẻ trốn nợ, sẽ không tận dụng được nhiều doanh nghiệp tài trợ tín dụng thương mại.

Vốn vay nước ngoài, mong hoài chẳng được

Vốn vay nước ngoài chủ yếu là dưới hình thức mở L/C mua hàng trả chậm. Tuy nhiên, để được trả chậm, các doanh nghiệp cần có sự bảo lãnh của ngân hàng. Đã qua rồi thời mở L/C được các ngân hàng giải quyết một cách dễ dàng. Đến nay, việc mở L/C trả ngay cũng như trả chậm đều bị coi là một loại hình bão lãnh và do đó, phải đáp ứng được các điều kiện gần như một khoản vay vốn. Trong thời kỳ lạm phát, tỷ giá đồng USD cũng thường biến động bất thường, rủi ro lớn đối với chính các ngân hàng khi đến thời hạn phải thanh toán với nước ngoài. Nên việc được ngân hàng bảo lãnh vay vốn nước ngoài cũng khó không kém gì được cho vay.

Cũng như các doanh nghiệp trong nước, trong thời kỳ kinh tế thuận buồm xuôi gió, các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng cho người mua trả chậm. Khi kinh tế đình đốn, việc này đang và sẽ trở lên khó khăn hơn. Chưa kể, việc vay vốn trung dài hạn của nước ngoài còn phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước và không phải doanh nghiệp nào cũng làm được.

Vốn vay nơi khác, rải rác là bao

Ngân hàng là một tổ chức đáng tin cậy nhất để gửi tiền cũng rất khó khăn trong việc huy động vốn, nên các doanh nghiệp không dễ gì thuyết phục được tổ chức, cá nhân khác đưa tiền cho mình sử dụng trong lúc này. Người có nhiều hay ít tiền đều cảm nhận thấy sự bất an, rủi ro lớn. Hơn nữa, vn vay ngân hàng 21%/năm bị coi là quá cao để kinh doanh có lãi, thì vay các tổ chức, cá nhân khác khó có giá thấp hơn.

Ngân hàng là những nhà cho vay chuyên nghiệp, với thủ tục, điều kiện chặt chẽ khắt khe mà không muốn cho vay, thì cũng sẽ không dễ gì nhận được tiền của những người cho vay bất đắc dĩ, lại không có tài sản bảo đảm tiền vay, kể cả với lãi suất vượt trần theo quy định của pháp luật. Thân bằng cố hữu gần xa, nếu có vốn thì cũng đã được huy động từ trước, thậm chí ngay từ khi bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.

Vốn nào cũng hãi với lãi suất cao

Trong thời kỳ này, dù hướng đến nguồn vốn nào cũng đều là bài toán nan giải về cả khả năng vay được tiền và mức lãi suất vay. Trừ trường hợp ngoại lệ, các doanh nghiệp đều phải rất cân nhắc trước khi bước qua rào cản này. Không có nhiều hy vọng với việc vay vốn và giảm đáng kể lãi suất trong ít nhất là vài tháng tới. Sách lược hàng đầu là giảm thiểu việc vay mượn, nợ nần.

Các doanh nghiệp cần lưu ý rằng, vay vốn từ bất kỳ nguồn nào cũng nằm trong giới hạn lãi suất không quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Ví dụ, tại thời điểm lãi suất cơ bản 14%/năm hiện nay, mọi giao dịch vay vốn đều không được vượt quá 21%/năm, tức là 1,75%/tháng. Nếu giao dịch nào vượt quá (không kể các chi phí khác ngoài lãi), khi có tranh chp, kiện cáo ra tòa án, sẽ không được pháp luật công nhận phần lãi vượt. Tất nhiên, trên thực tế, cũng ít khi các bên “dẫn nhau” ra tòa, cho nên các giao dịch vượt quá mức lãi suất này lại nghiễm nhiên được họ coi là bình thường. Thậm chí, trong những thời điểm nhất định, chính Ngân hàng Nhà nước cũng đã cho ngân hàng thương mại vay trên thị trường mở, qua đấu thầu giấy tờ có giá, lên đến 171% lãi suất cơ bản. Do vậy, phản ứng quá mạnh về việc các ngân hàng cho vay với lãi suất cao và cho vay vượt mức 21% là không hoàn toàn hợp lý, nhất là việc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu xử lý vượt cả thẩm quyền và phạm vi theo luật định. Tác dụng ngược của nó là góp phần dựng thêm rào cản đối với dòng vốn chảy từ ngân hàng sang doanh nghiệp. Điều này đã dẫn đến vòng xoáy (xoắn) luẩn quẩn, cả người đi vay và kẻ cho vay đều bị đẩy vào thế cùng lực kiệt, tê liệt kinh doanh.

Có một điều gắn liền với nợ quá hạn rất ít doanh nghiệp để ý, đó là phần lãi suất quá hạn tăng thêm khá cao, có thể bằng với mức lãi suất cơ bản. Tức là vay vốn 21%/năm, khi quá hạn có thể phải trả thêm 14% nữa, tổng cộng là 35%, chứ không phải là 31,5% như các ngân hàng đang tính nhầm theo quy định cũ. Việc Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, là trái với quy định tại khoản 5, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Ví dụ, áp dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, khi cho vay 14%/năm, lãi suất quá hạn tối đa chỉ được cộng thêm 7%/năm, khi cho vay 21%, lãi suất quá hạn tối đa lại được phép cộng thêm 10,5%/năm, trong khi theo quy định của Bộ luật Dân sự, cả hai trường hợp trên đều được cộng thêm tối đa 14%/năm.

(LUATMINHKHUE.VN: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Phân biệt lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng ?