1. Mạo danh để đi lừa tiền thì chủ sở hữu facebook có bị tội gì không ?

Thưa luật sư, em bị người khác hack nick facebook và người hack nick facebook kia mạo danh em đi lừa người khác. Bây giờ những người bị lừa kia tìm theo thông tin nick mà em bị hack gọi điện cho em và đe dọa em bắt em phải trả tiền họ.
Giờ em ra báo công an mong công an tìm ra người hack nick em và trả lại cho những người bị hack số tiền mà người hack nick em đã hack của họ thì liệu em có bị tội gì không ?
Mong Luật sư tư vấn giúp em !

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Khi bạn phát hiện ních facebook bị hách và có dấu hiệu lừa đảo, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi người đó cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người đó và không biết người đó là ai, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở nội dung tin nhắn qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook.

Khi đó tùy tính chất, mức độ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc xử lý hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Luật hình sự 2015 quy định, Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại....

Về xử phạt hành chính, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định, người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 1-2 triệu đồng.

Ngoài ra căn cứ theo Điều 73 Nghị định 174/2013/NĐ-CP về vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng trái phép thông tin trên mạng như sau:

"1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a)Trộm cắp, chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa hoặc tiết lộ mật khẩu, mã truy cập máy tính, chương trình máy tính của người khác;

b)Trộm cắp, chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, sử dụng hoặc tiết lộ tài khoản, mật khẩu, quyền truy cập vàoứng dụng, dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng.

2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Trộm cắp, mua bán, trao đổi, tiết lộ, sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng của người khá

Truy cập bất hợp pháp vào mạng hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này."

Hình thức tố cáo Căn cứ theo Điều 19 Luật tố cáo 2011 quy định:

1. Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.

2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

3. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số : 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính gửi các quý luật sư công ty luật Minh Khuê, tôi có 1 vấn đề sau cần được giải đáp và tư vấn mong các quý luật sư giúp tôi. Tôi có chơi 1 trò chơi trên mạng và quen 1 người trên đó, sau vài ngày tôi có ý hỏi mua đồ của người này giá 2 triệu vnđ và đến buổi trưa người đó gọi điện cho tôi bảo tôi chuyển tiền qua thẻ ATM rồi sẽ chuyển đồ cho tôi.
Nhưng tôi chuyển tiền qua thẻ cho người đó rồi mà người đó vẫn không chuyển đồ qua cho tôi, tôi gọi điện cho người đó nhưng người ta không trả lời ?
Mong các quý luật sư tư vấn giúp. Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Trường hợp trên người bán hàng qua mạng cho anh đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 :

"Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Theo đó để lấy lại số tiền đã bị chiếm đoạt anh có thể trình báo lên cơ quan công an nơi mà anh bị lừa đảo và cung cấp các chứng cứ chứng minh về hành vi trên, cơ quan công an sẽ giúp anh tim lại số tiền trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật Minh Khuê tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật và sự khác biệt với tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự.

Trả lời:

1. Cấu thành tội lừa đảo chiếm đọa tài sản

Căn cứ vào quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Thứ nhất, mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Thứ hai, khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Thứ ba, mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Kính thưa Luật Sư, em có một câu hỏi mong được giải đáp. Em có mua 1 cái laptop trên Chợ Tốt của người kia bán 2 triệu rưỡi em với người kia có lên zalo để nói chuyện về thông tin và giá cả laptop top sau khi chốt giá là 2 triệu rưỡi. Em nói đưa trước 1 triệu rưỡi còn 1 triệu 10 ngày sau em sẽ đưa đủ. Người kia đồng ý hai ngày sau giao thùng laptop cho em qua bưu điện. Nhưng thực tế người kia tự mang laptop xuống cho em để lừa em lấy 1 triệu trong thùng đó không phải là laptop mà toàn là gỗ cây không ?.Kính thưa luật sư cho em hỏi đây có phải là lừa đảo qua mạng hay không và xử lý như thế nào của pháp luật ? Em thành thật rất cảm ơn.

Hành vi này của người bán hàng nhiều căn cứ cho thấy người bán hàng cho bạn có hành vi lừa dối ngay từ đầu. Thủ đoạn gian dối bỏ gỗ cây vào thùng giả là máy tính, có sự tính toán từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bạn. Bạn có thể đưa đơn ra cơ quan công án để yêu cầu xử lý hình sự với đối tượng này. Gía trị tài sản trên 2 triệu đồng có căn cứ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên cần có thông tin chính xác hơn về đối tượng bán hàng cho bạn để yêu cầu xử lý.

2. Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Bộ luật hình sự quy định:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này"

Xin chào luật sư Minh Khuê. Tôi có trường hợp như sau xin nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi bị một người tên PAH (Lào Cai) lừa bán chó. Sau khi thỏa thuận, tôi trả 1 nửa tiền, hẹn khi lấy hàng trong ngày sẽ trả nốt. Nhưng hắn không gửi hàng. Những ngày sau tôi gọi hắn hứa hẹn trả lại tiền nhưng đều không trả. (Số tiền tôi bị lừa là 1,5 triệu đồng). Tuy nhiên, gần đây 1 người bạn tôi cũng bị hắn lừa 100 triệu đồng. Hắn vay tiền - bằng hình thức chuyển khoản, nhưng đến hẹn không trả. Hai chúng tôi muốn cùng tố cáo hắn đến cơ quan công an giải quyết. Vậy xin hỏi chúng tôi phải làm thủ tục như thế nào và chi phí chúng tôi phải trả cho công an là bao nhiêu? Mong nhận được sự giúp đỡ của văn phòng luật sư Minh Khuê. Cảm ơn luật sư nhiều ạ.

Hiện nay hành vi này của anh ta không trả đủ tiền mua hàng cho bạn chưa đủ căn cứ cấu thành tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản vì số tiền chỉ là 1 triệu 5 năm nghìn. Đây là hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật dân sự, vậy anh này có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền cho bạn. Còn hành vi vay tiền cảu người khác cần phải xem xét thêm về cấu thành tội phạm của hành vi này.

Chào luật sư Minh Khuê. Em hiện đang theo học tại một trường giới thiệu rằng là trường quốc tế, hiện đang liên kết với một trường đại học của mỹ . Hiện em đang học hết 1 kỳ học và qua tìm hiểu của bạn em từ bên mỹ thì trường đại học này là trường chỉ đào tạo học online. Hoàn toàn không có liên kết với trường nào bên Việt Nam.Trường đứng dưới tên đăng ký một công ty, học phí cao, là một trường quốc tế nhưng lại giảng dạy hoàn toàn chương trình Việt Nam, bằng cấp cho sinh viên hoàn toàn không có số để kiểm tra. Cho em hỏi đây có phải là trường hợp lừa đảo không? Em có thể đòi lại số tiền đã đóng không? mong luật sư giải đáp giúp em sớm. Chân thành cảm ơn luật sư.

Thông tin bạn cung cấp chưa đủ căn cứ để kết luận trường học này là 1 tổ chức lừa đảo, vì bạn vẫn được giản dạy ở đây và đóng học phí cho công giảng dạy của các giáo viên. Việc hoàn lại số tiền học đã đóng là chưa hợp lý.

3. Hợp đồng dân sự

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định:

Điều 428. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Pháp luật không có quy định cụ thể bắt buộc về hình thức của hợp đồng mua bán tài sản, trừ một số loại hợp đồng mua bán tài sản đặc biệt (VD: quyền sử dụng đất). Do đó, hợp đồng giao dịch mua bán hàng hóa của hai người đã được xác lập và được pháp luật bảo vệ về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Cụ thể:

Điều 438. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản.

2. Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Chào anh, chị cho em hỏi em làm nghề mua bán ô tô cũ trả là cách đây 6 năm em có mua một chiếc, về sau em bán lại cho người nữa . Ban đầu không vấn đề gì sau 6 năm thì người ta kiện lên công an là em lừa đảo bán xe số máy bị đục lại và công an mời em lên nói chuyện về bắt em mua đền con xe khác hoặc đền tiền gấp 3 lần tiền em bán xe cho người ta xe trước em bán là 50 triệu. Trước khi giao xe em đã cùng người mua đi đăng kiểm lại xe người ta có kiểm tra số khung số máy không vấn đề gì mà sau 6 năm em bị kiện như vậy thì em có phải chịu tội không ? Vì không biết lỗi số bị đục lại do bên nào. Xin anh chị tư vấn cho em xem là như vậy thì lỗi do bên nào ? Chân thành cảm ơn .

Việc bạn cung cấp thông tin là công an mời bạn lên nói chuyện và bắt bạn mua đền con xe khác hoặc đền tiền gấp 3 lần tiền bạn bán xe là thông tin không có căn cứ. Hiện nay chưa xác định được yếu tố lỗi của bạn hay lỗi của ai nên chưa có căn cứ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bản chất đây là hợp đồng mua bán dân sự chưa có yếu tố hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Bị lừa mua xe máy làm sao để đòi quyền lợi ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Em có một đứa bạn bị lừa mua xe máý. ở công ty xe máy "kho xe TN". vụ này cũng mới xảy hôm thứ hai và thứ ba nhằm ngày 23, 24 /05/2016 ạ.Làm sao để bắt được hung thủ đây anh chị.

Trường hợp này bạn có thể làm đơn khởi kiện công ty xe máy "kho xe TN" tuy nhiên bạn phải có bằng chứng về việc công ty đó lừa bạn mua xe máy thì bạn mới khởi kiện được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Cách đây mấy hôm gd tôi đã bị lừa khoản tiên 145tr của tên quê BL hắn nói bán đất cho tôi và tôi đã đưa trước cho hắn hơn trăm triệu để hắn lo giấy tờ nhưng sau khi lấy tiền hắn đã bỏ trốn và ko liên lạc được vậy giờ mong luật sư giúp tôi cách làm đơn gửi đến cơ quan nào được vì tôi chỉ nhớ tên tuổi và quê BL ko nhớ nơi cư trú cụ thể.đồng thời có hình của hắn. Giờ tôi nên làm gì

=> Lúc này bạn có thể làm thủ tục tố cáo người đó với cơ quan công an về hành vi người này lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên bạn cần có nhân chứng, bằng chứng như giấy giao nhận tiền, băng ghi âm, ghi hình về việc người đó xác nhận có lấy tiền của bạn,... và thông tin cá nhân như số tài khoản, tên, địa chỉ,...

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Bạn chồng tôi có nhờ chồng tôi mở tài khoản ngân hàng để nhận gửi tiền cho người trung quốc. Theo lời chồng tôi thì bạn của Ck tôi nói rằng vì họ là người trung quốc nên không thể mở Tk ngân hàng ở việt nam, họ muốn làm ăn tại việt nam... Và Ck tôi đã đi mở. Nhưng vừa mở và rút tiền cho người trung quốc được 2 hôm, Ck tôi đã bị c.an mời lên làm việc, đồng thời hỗ trợ c.an bắt mấy người TQ đó. Và lúc này khi nghe c.an giảng giải Ck tôi mới biết mình bị lừa. Giờ Ck tôi đang phải ở dưới HN để lấy lời khai. Vậy, xin hỏi luật sư Ck tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

=> Trường hợp này chồng bạn là người mở tài khoản nhưng chồng bạn là người bị lừa, nếu chồng bạn có thể chứng minh được việc mình mở tài khoản ngân hàng với mục đích hợp pháp, không biết gì về hành vi vi phạm và hợp tác với cơ quan điều tra thì chồng bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tội lừa đảo và lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có vay tiền của 1 người bạn để làm ăn nhưng do kinh doanh thất bại đến hẹn không trả được. Sau đó anh ấy bắt tôi viết một giấy biên nhận.

Do quen biết hãng xe Honda tôi có thể mua giúp anh ta 1 chiếc xe máy hiệu SH giá rẻ nên hứa mua giúp anh ta 1 chiếc xe máy SH 150 triệu và hẹn 1 tháng sẽ giao đầy đủ giấy tờ và xe nếu không tôi sẽ chịu mọi án phí và trách nhiệm trước pháp luật khi anh ta kiện ra tòa, trong lúc tôi viết giấy có camera ghi hình tôi và anh ta. Do không mang theo CMND nên tôi viết đúng tên tuổi nhưng sai địa chỉ và số CMND.

Vậy tôi xin hỏi luật sư khi anh ta kiện ra tòa nói là tôi lừa đảo anh ta mua hộ xe nhưng không mua tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi H.N

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

"Điều 139, Luật hình sự 1999 sử đổi bổ sung 2009 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

- Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

- Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản.

- Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng có trước khi có việc giao tài sản giữa người phạm tội và bị hại thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ gian dối lại có sau khi người PT nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể, hành vi gian dối đó có thể cấu thành tội che giấu tội phạm hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Ví dụ: A cho B vay 20 lượng vàng có viết tay biên nhận với lãi suất 1%/ tháng, nhưng do A đã tìm cách mượn lại giấy biên nhận và tẩy xóa đi, sửa lại chỉ còn 2 lượng nhằm chiếm đoạt 18 lượng của B.

-> Tương tự với trường hợp này của bạn, trước khi có hành vi giao kết giữa 2 người bạn của bạn đã xác lập với bạn một hợp đồng vay, do làm ăn kinh doanh thua lỗ, bạn chưa trả được nợ vay. Hành vi giao tiền đã xảy ra trước khi có giao dịch biên nhận mua hộ xe, hơn nữa bên bị hại chủ động đưa ra giao dịch giao kết mua hộ xe như một hình thức trả nợ vay.( Hành vi ham lợi ích, muốn mua xe giá rẻ, có lợi cho mình).

-> Do đó hành vi của bạn chưa cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của bộ luật hình sự.

+ ) Theo luật hình sự tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản được xác định như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

-> Căn cứ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trước hết thứ nhất, bạn vay tiền bạn mình bằng hợp đồng vay mục đích để làm ăn kinh doanh, nhưng do thua lỗ, rủi ro chưa có khă năng chi trả nợ ngay, đó là sự việc ngoài ý muốn. Thứ hai, sau khi đã thực hiện xong hành vi, bạn có ý định trốn tránh, chạy trốn và không trả nợ hay không. Thứ ba, bạn của bạn nộp đơn khởi kiện thì cần cung cấp được chứng cứ hợp pháp cho việc khởi kiện của mình là có căn cứ. Với những thông tin bạn cung cấp chưa đủ bằng chứng chứng minh bạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011 quy định về nguồn chứng cứ bao gồm:

"1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

2. Các vật chứng;

3. Lời khai của đương sự;

4. Lời khai của người làm chứng;

5. Kết luận giám định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

7. Tập quán;

8. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;

9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”

Các nguồn chứng cứ được nêu trên có giá trị như nhau. Bên cạnh đó, như bạn tham khảo thì tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định về Chứng minh và chứng cứ thì “để được coi là chứng cứ quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì việc xác định chứng cứ từ từng loại nguồn chứng cứ cụ thể như sau: b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh,… Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.”

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?