1. Xử lý khi bị vu khống về tội hiếp dâm và bị ép cung ?

Thưa luật sư!. Hiện tại em có những thắc mắc như sau: Thứ nhất: Bạn của em bị gia đình cô bé 13 - 14 tuổi tố cáo về đã thực hiện hành vi hiếp dâm. Trong khi đó anh bạn kia không làm gì cả, cô bé kia đi khám thì không có dấu hiệu có thai, tuy nhiên khám bị mất màng trinh (không rõ vì lý do gì).
Bạn em bị đưa lên lên cơ quan công an quận, họ ép phải nhận tội, nếu không nhận là ăn đánh khi nào nhận tội thì thôi và bị ép nộp phạt 50 đến 100 triệu đồng. Thứ 2: cũng chính gia đình cô bé đó bây giờ tố em tội hiếp dâm và cũng bị cơ quan chức năng ép cung đánh ép phải nhận. Em không nhận nhưng có thể cũng bị đánh như bạn em.
Vậy em có được tố cáo gia đình nhà cô bé kia tội lừa đảo tống tiền, chiếm đoạt tài sản , và anh công an kia tội ép cung không. Em và anh bạn kia đều bị lừa ?
Em xin cảm ơn ạ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 156 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tội vu khống được quy định như sau:

Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%77;
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên78;
c) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Trong đó, hình thức vu khống phổ biến nhất là hình thức: Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn tố cáo gia đình cô gái kia về hành vi vu khống của họ.

Ngoài ra,

Nếu có căn cứ cho rằng khoản tiền mà bạn của bạn bị ép nộp là 50-100 triệu là của gia đình cô gái kia, mục đích vu khống để được nhận khoản tiền bồi thường thì đồng thời bạn có thể làm đơn khởi kiện gia đình này đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó, hành vi này được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g)97 (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b)98 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)99 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy,

theo như quy định trên, để bị coi là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp trên, nếu gia đình cô gái kia có hành vi vu khống bạn thực hiện hành vi hiếp dâm trẻ em nhằm chiếm đoạt số tiền bồi thường gia đình bạn thì cũng được coi là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ở đây, gia đình cô gái kia có hành vi lừa dối cơ quan công an, cung cấp các thông tin sai sự thật nhằm chiếm đoạt được số tiền bồi thường từ bạn.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, cơ quan công an đã có hành vi đánh đập bạn của bạn, hành vi này cấu thành tội dùng nhục hình theo quy định tại Điều 373 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 373. Tội dùng nhục hình
1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm người bị nhục hình tự sát.
4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi đánh đập của điều tra viên cũng cấu thành tội dùng nhục hình đối với bạn của bạn và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Trong trường hợp trên, gia đình bạn của bạn, hoặc chính bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm trực tiếp gửi lên Viện kiểm sát cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp huyện để các cơ quan này xem xét, giải quyết vụ việc.

2. Tội dùng nhục hình

Tội dùng nhục hình và bức cung là những tội danh không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người bị buộc tội mà còn xâm phạm đến hoạt động tư pháp, làm ảnh hưởng đến tính đúng đắn trong hoạt động tư pháp. Với tội dùng nhục hình, theo điều 373 Bộ Luật Hình sự thì người vi phạm có thể đối mặt với mức hình phạt cao nhất là tù chung thân, cụ thể như sau:

“Điều 373. Tội dùng nhục hình

1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

a) Phạm tội 2 lần trở lên

b) Đối với 2 người trở lên

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt

d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 12 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm người bị nhục hình tự sát

4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm.”

Còn với tội bức cung thì hình phạt thấp nhất là sáu tháng tù, hình phạt cao nhất cũng là tù chung thân, cụ thể như sau:

“Điều 374. Tội bức cung

1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

a) Phạm tội 2 lần trở lên

b) Đối với 02 người trở lên

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt

e) Dẫn đến làm sai lệch kết quả khỏi tố, điều tra, truy tố, xét xử

g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bức cung tự sát

b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

a) Làm người bị bức cung chết

b) Dẫn đến làm oan người vô tội

c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 1 năm đến 5 năm.”

Hành vi bức cung, dùng nhục hình rất khó phát hiện, rất khó chứng minh và khó xử lý bởi trong hoạt động điều tra, không phải lúc nào cũng có người giám sát cán bộ điều tra thực hiện các hoạt động tố tụng.

Thủ tục hỏi cung phần lớn là chỉ có người bị buộc tội đối mặt với cán bộ điều tra. Quy định về tạm giam, tạm giữ, đặc biệt là hoạt động giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ tại cơ quan điều tra trong những ngày đầu khi mới bắt giữ nghi phạm là thời điểm rất nhạy cảm, rất dễ xảy ra bức cung, dùng nhục hình.

Có rất nhiều trường hợp khi ra tòa, xét xử, bị cáo khai báo là bị đánh đập, ép buộc khai báo và lúc này, Tòa án yêu cầu xuất trình chứng cứ nhưng bị cáo không thể có. Tòa án sẽ rất khó để có thể xác định lời khai đó của bị cáo là đúng hay không...

Việc bức cung, dùng nhục hình xảy ra với những cơ quan điều tra mà cán bộ điều tra yếu kém về nghiệp vụ, yếu kém về đạo đức, coi thường tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác, tiêu cực hoặc có sự quản lý lỏng lẻo, thậm chí dung túng của cán bộ chỉ huy. Hành vi bức cung, dùng nhục hình sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, danh dự nhân phẩm của người bị tạm giữ, bị can và cũng ảnh hưởng đến tính đúng đắn, đến sự thật khách quan của vụ án.

Để giảm thiểu những vụ việc bức cùng, dùng nhục hình thì ngoài việc tăng cường cơ chế giám sát, thực hiện nghiêm túc những nội dung được quán triệt trong Thông tư nêu trên, thực hiện ghi âm ghi hình, thì cần phải nâng cao đạo đức, tác phong, kỷ luật của cán bộ, những người tiến hành tố tụng, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

3. Quyền không bị tra tấn có phải là quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế công nhận hay không?

Theo Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 tại Pa-ri, Cộng hòa Pháp, các quyền cơ bản của con người gồm: quyền tự do, bình đẳng về phẩm giá và các quyền không bị phân biệt, đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hay quan điểm khác, dân tộc hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nòi giống hay các vấn đề khác; quyền được sống, không bị bắt làm nô lệ và nô dịch; không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục; quyền được thừa nhận tư cách như một con người trước pháp luật ở bất cứ nơi nào; quyền được xét xử theo pháp luật; quyền được tự do không bị bắt giữ vô cớ, bị giam cầm hoặc đầy ải; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập, không thiên vị; quyền được coi là vô tội cho đến khi hành vi phạm tội được chứng minh; tự do không bị can thiệp vô cớ vào đời tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín; tự do cư trú và thay đổi nơi ở; quyền được tỵ nạn; quyền có quốc tịch; quyền được kết hôn và xây dựng gia đình; quyền được sở hữu tư nhân về tài sản; tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; tự do ý kiến và biểu đạt; quyền được lập hội và hội họp hòa bình…

4. Hành vi tra tấn theo pháp luật quốc tế được hiểu như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 1 Công ước chống tra tấn thì thuật ngữ “tra tấn” được hiểu là bất kỳ hành vi cố ý gây ra sự đau đớn hoặc khổ sở đối với một người về thể xác hoặc tinh thần, nhằm những mục đích thu thập thông tin hoặc sự nhận tội từ người đó hoặc một người thứ ba, trừng phạt người đó về một hành vi mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hoặc nghi ngờ đã thực hiện, đe dọa hoặc ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ lý do gì khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi mà sự đau đớn hoặc chịu đựng đó được gây ra bởi hoặc với sự xúi giục hoặc với sự đồng ý hoặc sự chấp thuận của một nhân viên công quyền hoặc người khác đang thực hiện công vụ. Khái niệm này không bao gồm sự đau đớn hoặc khổ sở là kết quả đương nhiên hoặc ngẫu nhiên của các hình phạt hợp pháp”.

Như vậy, theo khái niệm nêu trên thì về chủ thể thực hiện hành vi tra tấn là hành vi do một nhân viên công quyền thực hiện; hoặc được một người khác thực hiện, người này có thể là không phải là một nhân viên công quyền nhưng đang thực hiện nhiệm vụ công, hay nói cách khác là có quyền lực như nhân viên công quyền hoặc thực hiện dưới sự cho phép/đồng ý/chứng kiến của nhân viên công quyền.

5.Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân được thể hiện trong các bản Hiến pháp của Việt Nam như thế nào?

Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.”

Như vậy, quyền không bị tra tấn được pháp luật quốc tế công nhận là một trong các quyền cơ bản của con người.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bức cung được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Bức cung (hay còn gọi là ép cung) là hành vi của người có trách nhiệm lấy lời khai trong hoạt động điều tra, truy tố hay xét xử đã sử dụng những thủ đoạn khác nhau trái pháp luật (tức không đúng với quy định của pháp luật) về tố tụng nhằm cưỡng ép người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai những điều họ biết. Các thủ đoạn này có thể là đe dọa sẽ dùng nhục hình; đe dọa sẽ xử nặng; đe dọa sẽ bắt giam, sẽ xét xử người thân thích,... của người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung.

Bức cung không chỉ xâm phạm quyền nhân thân của người bị lấy lời khai mà còn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như dẫn đến xử sai, xử oan, bỏ lọt người phạm tội, xử quá nặng hoặc quá nhẹ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân hoặc cũng có thể gây dư luận xấu, gây bất bình trong một bộ phận lớn trong nhân dân địa phương,... Do đó, bức cung luôn bị coi là hành vi trái pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm.

Câu hỏi: Làm người bị bức cung chết thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm người bị bức cung chết;

b) Dẫn đến làm oan người vô tội;

c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Câu hỏi: Làm cách nào để lấy bằng chứng bị ép cung, dùng nhục hình?

Trả lời:

Bộ luật hình sự 2015 tăng nặng mức phạt đối với hành vi vi phạm này, trước đây chỉ là hình phạt tù thì còn sắp tới (01/01/2018) là hình phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân.

Thế nhưng trên thực tế để xử lý tội này thì theo mình thấy là vô cùng khó khăn, trước giờ mình chưa thấy báo chí đăng các tin liên quan đến việc xét xử tội này.

Để mình nói cho các bạn sự khó khăn để xử lý tội này:

Muốn người có hành vi vi phạm về tội bức cung, dùng nhục hình thì phải có hành vi tố cáo từ bị hại (tức người bị bức cung, dùng nhục hình), nhưng đa phần những người gọi là “bị hại” trong trường hợp này đều đang bị tạm giam, tạm giữ.

Khi đang bị tạm giam, tạm giữ, thì người bị tạm giam, tạm giữ hoàn toàn không có bất kỳ phương tiện nào để ghi âm, ghi hình để làm cơ sở chứng cứ cho việc bị ép cung, dùng nhục hình nhằm tố cáo người tiến hành điều tra vi phạm (nếu có).

Không có chứng cứ về việc bị ép cung, dùng nhục hình thì khó mà có thể tố cáo nhằm đưa hành vi vi phạm của cơ quan đ