1. Mở đầu vấn đề

Trải qua những kinh nghiệm về suy thoái kinh tế rộng lớn và hai cuộc Chiến tranh Thế giới, từ hậu quả tai hại của cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, nền kinh tế toàn cầu bước vào một giai đoạn được đặc trưng hoá như một nền “kinh tế quốc tế”. Ngay cả khi phần lớn các hoạt động kinh tế tiếp tục diễn ra trong giới hạn biên giới quốc gia của các Nhà nước riêng biệt, cũng có sự trao đổi thương mại ngày càng gia tăng và bền vững giữa các lĩnh vực kinh tế quốc gia đó, phần lớn là các mặt hàng truyền thống như nông sản, nguyên liệu, hàng công nghiệp và các loại hàng hoá khác. Thương mại thường được quản lý thông qua các chính sách hoặc các biện pháp đơn phương hoặc các thoả thuận song phương, và hoạt động thương mại chủ yếu được tiến hành giữa câc nước công nghiệp đã phát triển hoặc trong các đế chế thuộc địa bởi các công ty thương mại lớn, và từ năm 1960, bởi số lượng các công ty đa quốc gia ngày càng tăng.

Trong những năm 50 và 60, các nước đang phát triển và chính phủ của họ không nhất thiết trực tiếp dính líu vào các quan hệ thương mại hoặc hoạch định chính sách thương mại. Sau khi cơ cấu thuộc địa bị sói mòn, hàng loạt các “tay chơi” mới còn thiếu kinh nghiệm xuất hiện trên vũ đài thương mại toàn cầu. Thu nhập từ nước ngoài của các quốc gia mới giành được độc lập này thường phụ thuộc vào xuất khẩu một ít sản phẩm hàng hoá, còn họ vẫn dựa vào cơ cấu kinh tế và thương mại thuộc địa cũ. Những thách thức đặt ra cho cảc nước đang phát triển này trong việc điều chỉnh những thực tế và các luật chơi của thương mại quốc tế, điều bất lợi không phải vì họ chỉ là nước “chậm phất triển”, nói cách khâc họ còn có những cơ cấu kinh tế và xã hội truyền thống, ngoài ra, còn thường bị tê liệt bởi những bất ổn về chính trị.

2. Đặc thù giai đoạn những năm 70 và những năm 80 về quan hệ thương mại quốc tế

Bắt đầu từ những năm 70 và tăng nhanh vào giữa những năm 80, kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập nhiều hơn. Một vài đặc thù của giai đoạn này là:

- Phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin, viễn thông và sản xuất.

- Đẩy mạnh hơn nữa tự do hoá thương mại trên cơ sở đa phương, song phương, khu vực và tự trị.

- Phát triển câc chiến lược sản xuất quốc tế và kinh doanh trong nội bộ tại hàng loạt cấc công ty đa quốc gia lớn.

- Tăng cường đầu tư trục tiếp nước ngoài thường gắn vói thương mại.

Không thể chỉ giải thích toàn cầu hoá như kết quả của sự phát triển kỹ thuật. Nó cần được xem như là một biện pháp bảo đảm tự do thương mại và chu chuyển vón, và quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh, thường vượt quấ biên giới một quốc gia và các nhóm khu vực. Nhưng cũng giống như trong quá khứ, các nước cồng nghiệp hoâ và các công ty đa quốc gia lớn thường hưởng lợi từ quá trình này. Rõ ràng là một trong những thách thức chính đoi vói hệ thống thương mại quốc té nằm ngay trong việc hội nhập của các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, với tư cách họ phải là một tay chơi toàn diện và bình đẳng cũng có thể kiếm lợi từ việc tăng trưởng từ tự do hoá thương mại và gia tăng đầu tư.

3. Thay đổi của quan hệ thương mại quốc tế

Như đã đề cập trước, việc cấu trúc các quan hệ thương mại quốc tế thường có những thay đổi lớn như hệ quả của sự phát triển chính trị.

Tại Đông Âu, thời kỳ chuyển đổi từ hệ thống kinh tế, thương mại xã hội chủ nghĩa tập trung, có kế hoạch, do Liên Xô lãnh đạo sang nền kinh tế thị trường tự do và các quan hệ thương mại “bình thường” đã không chỉ diễn ra quyết liệt và nhanh chóng mà còn gây ra sự đau đớn đối với các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trước đây.

Việc tái cơ cấu lại nền kinh tế cũng như cơ cấu sản xuất và thương mại đã phải trả giá, nhưng trong phần lớn cấc trường họp, việc chuyển đổi đã chúng tỏ là thắng lọi. Những thay đổi này mới chỉ khải đầu trong thập kỷ vùa qua cũng đã gây khó khăn cho cả nhiều nước Tây Âu và nền công nghiệp của họ, bởi vì họ dựa vào xuất khẩu và luồng buôn bán “có kế hoạch” của họ thực hiện với các nước Đông Âu.

Đa số chính phủ trong “các nền kinh tế chuyên đổi” theo cách gọi hiện nay của khối Đông Âu trước đây nhanh chóng thừa nhận triết lý về thị trường tự do và thương mại tự do và thiết lập những thoả thuận thương mại mói với các nước láng giềng phương Tây cũng như các đối tấc trước kia trong khối thương mại XHCN, thường được gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA). Thị trường phương Tây cũng nhanh chóng thay thế các thị trường truyền thống ở phía Đông, đặc biệt là các thị trường ở Liên Xô. Ngày nay, phần lớn các nước XHCN Đông Âu trước đây đang là ứng cử viên gia nhập EU. Ket quả là bản đồ châu Âu giống như được vẽ lại một lần nữa vào những năm đầu của thế kỷ mới. Tuy nhiên, lần này nó không được vẽ lại như hậu quả của chiến tranh hay xáo động chính trị, mà chỉ đon thuần phản ảnh sự thay đổi một cách hoà bình phát sinh từ của sự hội nhập kinh tế và chính trị tiếp diễn ở châu Âu.

Do nhiều lý do thực tiễn, thưong mại và quan hệ thương mại thường phát triển hon giữa các nước láng giềng và các khu vực địa lý gần nhau, như chúng ta thấy ở châu Âu hay Bắc Mỹ, noi sự hội nhập kinh tế và nhũng thoả thuận thưong mại ưu đãi đã chiếm địa vị thống trị. Trong đa số các trường hợp, hội nhập kinh tế diễn ra trong một khu vực địa lý. Tuy vậy, các quan hệ thưong mại song phưong truyền thống ngày nay thường vẫn tiêu biểu cho hình thái chủ yếu trong các quan hệ thưong mại quốc tế.

Trong quá khứ, thương mại được sử dụng như một chủ đề cho các điều kiện không thể dự báo trước, các điều kiện này thường theo sự chỉ đạo của cấc mục tiêu tối hậu của chính phủ để bảo vệ nhà sản xuất và thị trường trong nước. Thời kỳ chủ nghĩa trọng thương có lẽ là một trong những tấm gương bất hạnh của những chính sách bảo hộ trong lịch sử hiện đại của quan hệ thương mại quốc tế. Nhưng chủ nghĩa bảo hộ là một hiện tượng không thay đổi, kể cả hiện nay, nên các chính phủ vẫn còn thường xuyên phải đương đầu với các sức ép bảo hộ của các nhà điều hành kinh tế khác nhau, đặc biệt vào những thời điểm suy thoái kinh tế. Theo truyền thống, các nước thường tự do can thiệp vào thị trường của họ trên cơ sở tự trị mỗi khi họ coi đó là lợi ích theo mục đích và nhu cầu riêng của họ. Xin nêu một ví dụ kinh điển: tình hình một nước có cơ chế thuế bảo hộ tương đối cao lại cho phép nhập khẩu nguyên liệu hay máy móc miễn thuế khi các sản phẩm này cần thiết cho sản xuất công nghiệp trong nước để chế biến ra thành phârn, hoặc các sản phẩm thay thế trong nước chưa sản xuất được. Cho mãi tới gần đây, câc chính phủ vẫn thường không lường trước các khía cạnh của chính sách cạnh tranh hay các quyền lợi người tiêu dùng.

4. Hình thái qua hệ thương mại quốc tế cuối thế kỷ 20

Chỉ mãi tới cuối thế kỷ 20 vừa qua, khi các hiệp định thương mại song phương toàn diện hơn được ký kết giữa các chính phủ mới đặt ra các điều kiện cơ bản cho thương mại.

Các hiệp định như vậy thường chỉ đề cập đến một hay một số lượng hạn chế sản phẩm, nhưng cùng với thời gian, các hiệp định ngày càng được phát triển toàn diện hơn. Hệ thống thương mại đa phương là một tấm gương của sự phát triển này.

Trước khi ký kết Hiệp định GATT năm 1947, chưa có các quy tắc thương mại đa phương ràng buộc và toàn diện, và khá lâu sau đó, các quy tắc này chỉ được một số nước áp dụng, chủ yếu là các quốc gia hoạt động thương mại khối phương Tây.

Tuy vậy, công bằng mà nói, các quan hệ thương mại quốc tế dưới sự bảo hộ của GATT trong thời kỳ hậu chiến đã phát triển từ chủ nghĩa song phương sang chủ nghĩa đa phương. Lần đầu tiên trong lịch sử thương mại quốc tế, các nước tham gia ký kết GATT đã mong được “chơi theo luật lệ giống nhau” của cuộc chơi.

Sau những kinh nghiệm của Chiến tranh Thế giới lần thứ II, cộng đồng quốc tế bắt đầu thấy rõ rằng không thể bị lôi kéo vào những cuộc xung đột toàn cầu mới, ngay cả với các giải pháp thương mại. Triết lý này chỉ đạo những nhà sáng lập ra Liên hợp quốc và GATT. Quá trình hội nhập kinh tế châu Âu dựa trên cơ sở những mối quan tâm như vậy, ngay cả khi những khát vọng của cấc nhà lãnh đạo chính trị trong những năm 50 thậm chí còn đi xa hơn nữa. Sau thất bại ký kết một khu vực mậu dịch tự do công nghiệp nằm trong Tổ chức Họp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) được thành lập năm 1948, như một tố chức bảo trợ cho viện trợ Marshall, tham vọng chính trị của 6 nước tham gia vì sự hội nhập kinh tế mật thiết hơn, dẫn đến việc ký kết Điều ước Roma và thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) năm 1957. Sự phát triển tiếp theo là “nhóm 7 nước” thành viên khác của của OEEC tức là 7 nước’’ “ngoài rìa” ký Công ước Stockhom về việc thành lập Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA) năm 1960. Hai cuộc thử nghiêm hội nhập kinh tế khu vực và thoả thuận thương mại tự do đầu tiên và lâu đời nhất- có lẽ cũng là thành công nhất - đã thành sự thực hiển nhiên.

Ngày nay, kinh tế Thế giới đang liên tục phát triển với sự gia tăng những hiệp định thương mại khu vực: gần 150 hiệp định ưu đãi khu vực đã được thông báo cho GATT/WT0 kể từ năm 1947, đa số từ năm 1990 trở lại đây (xem Phụ lục của Chương này).

Nhiều ví dụ khác nhau từ những hiệp định của Cộng đồng châu Âu (EC) và EFTA với các nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu và các nước khu vực Địa trung Hải, đến hàng loạt các hiệp định về câc Khu vực Thương mại Tự do (FTAs) song phương và đa phương, giữa các nền kinh tế XHCN trước đây, hay Khu vực Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), đến hàng loạt các hiệp định giữa các nước châu Mỹ Latinh. Quâ trình dẫn đến thương mại tự do giữa câc quốc gia ASEAN trong Khu vực Thương mại Tự do châu Á (AFTA) đang được thực hiện, cũng như các cuộc thương thảo nhằm tạo ra tự do thương mại trong tổ chức Họp tấc Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Khu vực Thương mại Tự do Châu Mỹ (FTAA). Can ghi nhận rằng không có các thoả thuận thương mại tự do hay hội nhập giữa hai khối hoạt động thương mại hàng đầu là Châu Âu và Bắc Mỹ. Các ý tưởng về một Thị trường mới xuyên Đại Tây Dương (NTM) hay Khu vực Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (TAFTA) giữa EC và Mỹ do uỷ ban Liên minh châu Âu đề xuất, nhung việc tiếp nhận đề xuất này bị phía bên kia bờ Đại Tây Dương lạnh nhạt. Người ta thường biện luận rằng một hiệp định như FTA giữa hai cường quốc thương mại lớn sẽ làm phương hại hệ thống thương mại đa phương, một hệ thống được kỳ vọng là một diễn đàn thực hiện mục tiêu tối thượng là thương mại tự do toàn cầu - vào lúc nào đó trong tương lai.

Như một bước tiến cụ thể, các thoả thuận mậu dịch tự do xuyên Đại Tây Dương đầu tiên được tiến hành trong năm 1998 khi các nước EFTA và Canada khởi xướng các cuộc đàm phán về hiệp định thương mại tự do. Cùng thời gian đó, EC đã tiến hành đàm phấn về FTA với Mexico, Chile và chuẩn bị đàm phản tương tự với các nước Thị trường chung phía Nam (MERCOSUR). Các quốc gia EFTA cũng tiếp theo các bước đi của EC ở Mỹ Latinh. Và những cầu nói như vậy cũng đang được xây dựng qua Thái Bình Dương.

Thêm nữa là tiến trình APEC, các cuộc đàm phám nhằm thiết lập một hiệp định thương mại tự do giữa Chile và Hàn Quốc, hai nước trong APEC, khởi xướng từ năm 1999 như một có gắng đầu tiên chưa từng có cho một hiệp định giữa một nước Mỹ Latinh và một nước châu Á. cần ghi nhận rằng Hàn Quốc và Nhật Bản thuộc số ít các thành viên WTO không ký kết bất kỳ loại hiệp định nào theo Điều XXIV GATT, Phần IV của GATT hoặc Điều V của GATS trong quá khứ.

5. Kết thúc vấn đề

Người ta đã dự báo rằng khi bước sang Thiên niên kỷ mới, hơn một nửa khối lượng thương mại Thế giới sẽ diễn ra trong các khu vực ưu đãi thương mại.

Ngày nay, thương mại ưu đãi ở châu Âu chiếm từ 60 đến 80% tổng lượng trao đổi thương mại của mỗi nước.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.