1. Tranh chấp thương mại quốc tế là gì?

Tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn phát sinh khi một trong các bên vi phạm, hay nói cách khác không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình trong hoạt động thương mại quốc tế.

Tranh chấp thương mại phát sinh là do không thực hiện hay thực hiện không đúng như hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như vậy có thể nói rằng tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh do một trong các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình do hợp thương mại quốc tế qui định.

Chủ thể của loại tranh chấp này là các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế không phụ thuộc vào việc các bên là thương nhân hay là nhà nước.

Trong thực tiễn hoạt động thương mại nói chung, loại vi phạm này được thể hiện ở ba khía cạnh:

- Vi phạm liên quan đến các sự kiện pháp lí;

- Vi phạm liên quan đến việc giải thích hợp đồng hay các vấn đề pháp lí khác;

- Vi phạm liên quan đến cả hai loại trên, ví dụ không có khả năng thực hiện hợp đồng.

2. Khái niệm về ủy thác trong thương mại

2.1. Khái niệm

Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

2.2. Đặc điểm

Thứ nhất, quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác.

- Bên nhận ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện mua bán hàng hóa theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác. (Điều 156 Luật thương mại 2005)

- Bên ủy thác là bên giao cho bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa theo yêu cầu của mình và không nhất thiết phải có tư cách thương nhân.

- Quan hệ ủy thác có thể bao gồm:

+ Ủy thác mua;

+ Ủy thác bán hàng hóa.

Thứ hai, nội dung của hoạt động ủy này, bên nhận ủy thác chỉ được bên ủy thác ủy quyền mua hoặc bán hàng hóa cụ thể nào đó cho bên thứ ba.

Thứ ba, quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa phát sinh khi các bên xác lập hợp đồng ủy thác.

- Hợp đồng phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. (Điều 159 Luật thương mại 2005)

- Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng dịch vụ, do đó đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của bên ủy thác.

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Liên minh châu Âu (EU)

3. Quyền, nghĩa vụ của bên nhận ủy thác đối với bên ủy thác

3.1. Quyền của bên nhận ủy thác

Theo quy định tại Điều 164 Luật thương mại 2005 thì nếu như hai bên trong hợp đồng ủy thác không có thỏa thuận khác thì bên nhận uỷ thác có các quyền sau đây:

– Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

– Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác;

– Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuận cho bên uỷ thác.

3.2. Nghĩa vụ của bên nhận ủy thác

Theo quy định tại Điều 165 Luật Thương mại 2005, Nếu các bên không có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các nghĩa vụ sau:

– Thực hiện mua bán hàng hóa theo thỏa thuận. Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên nhận ủy thác. Bên nhận ủy thác cần tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận với bên ủy thác về việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng với bên thứ ba.

– Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác. Ví dụ: thực hiện thông báo về những biến động của thị trường, các yêu cầu cụ thể của bên thứ ba, …

– Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận. Tất nhiên, những chỉ dẫn trái với các quy định pháp luật hoặc không phù hợp với hợp đồng ủy thác thì bên nhận ủy thác sẽ không phải thực hiện.

– Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác;

>> Xem thêm:  Những vấn đề mới trong hệ thống thương mại quốc tế sau khi WTO ra đời : Các công cụ mới, nhân tố mới và liên minh mới?

– Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

– Thanh toán tiền hàng (nếu được ủy thác bán hàng); giao hàng mua được (nếu được ủy thác mua hàng) cho bên ủy thác theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác.

– Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra.

4. Vụ việc tranh chấp

- Các bên:

+ Nguyên đơn: Người bán Singapore

+ Bên đơn: Người mua Việt Nam

- Các vấn đề được đề cập:

+ Việc từ chối nhận hàng của Bị đơn

+ Số tiền thiệt hại do Nguyên đơn đòi bồi thường

>> Xem thêm:  Tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển vào thương mại quốc tế

+ Việc giao hàng chậm của Nguyên đơn

+ Số tiền thiệt hại do Bị đơn kiện lại đòi bồi thường

- Tóm tắt vụ việc:

Nguyên đơn và Bị đơn đã ký hợp đồng ngày 29 tháng 6 năm 1994, theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn giấy gói kẹo có in nhãn và tên cụ thể theo điều kiện CIF Hải Phòng: giao hàng từng đợt. Mỗ L/C và giao hàng đợt một: theo Annex 1. Mở L/C và giao hặng đợt hai và các đợt khác: Bị đơn sẽ thông báo cho Nguyên đơn bằng Telex hoặc Fax. Thời gian giao hàng là 20 ngày sau khi mỏ L/C

Thực hiện hợp đồng, hai bên đã tiến hành giao hàng, trả tiền đợt một và đợt hai. Sau hai đợt giao hàng, ngày 11 tháng 2 tháng 9, ngày 3 tháng 10 và ngày 18 tháng 10 năm 1994. Như vậy, Nguyên đơn đã giao chậm cả lô hàng theo Annex (giao chậm đợt một), hơn nữa còn giao thiếu hàng trị giá 5.820 USD. Tại phiên họp xét xử, Nguyên đơn trình bày nguyên nhân giao hàng chậm là do Bị đơn đề nghị tăng lượng hàng. Uỷ ban trọng tài không chấp nhận nguyên nhân này là căn cứ miễn trách cho việc giao hàng chậm, bồi vì Nguyên đơn không có văn bản đồng ý tăng số lượng và hai bên cũng không sửa đổi sô lượng của Annex 1. Vì vậy, Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc giao hàng chậm gây ra.

Theo quy định của Annex 2 và L/C, Nguyên đơn phải giao hàng chậm nhất ngày 25 tháng 2 năm 1995. Thực tế Nguyên đơn giao lô đầu vào ngày 9 tháng 2 năm 1995 trị giá 20.628 USD, lô thứ hai vào ngày 19 tháng 3 năm 1995 trị giá 8.395 USD. Như vậy, Nguyên đơn đã giao chậm lô thứ hai (thuộc đợt hai) là 24 ngày, giao thiếu hàng trị giá 11.641 USD. Giao chậm và giao thiếu hàng nhưng không chứng minh được là đã có căn cứ miễn trách thì Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại phát sinh.

- Về sổ tiền thiệt hại mà Bị đơn đòi Nguyên đơn bồi thường:

Về 398.862.000 VND do giao chậm và giao thiếu hàng đợt một:

Căn cứ vào các tài liệu, kế hoạch sản xuất, hợp đồng bán kẹo cho khách hàng nội địa, uỷ ban trọng tài xác định được rằng việc giao chậm và giao hàng thiếu của Nguyên đơn chỉ làm cho Bị đơn ngừng sản xuất trong 6 ngày, không sản xuất được .11.720 kg kẹo để giao đủ cho khách hàng nội địa. Từ đó, uỷ ban trọng tài tính số tiền thiệt hại thực tế, hợp lý mà Bị đơn đang phải chịu là 57.380.200 VND và quyết định buộc Nguyên đơn phải bồi thường số tiền này cho Bị đơn.

Về 502.585.000 VND do giao chậm và giao thiếu hàng đợt hai:

>> Xem thêm:  Sự cần thiết của Hiệp định thương mại đa phương về dịch vụ viễn thông, Hiệp định về Dịch vụ Viễn thông Căn bản

Căn cứ vào các tài liệu, kế hoạch sản xuất, hợp đồng bán kẹo, các chứng từ do các bên xuất trình, uỷ ban trọng tài xác định rằng việc giao hàng chậm và giao thiếu hàng của Nguyên đơn làm cho Bị đơn không thực hiện được kế hoạch sản xuất và tiêu thụ trong thời gian 30 ngày, không sản xuất được 47.620kg kẹo để giao cho khách hàng nội địa. Từ đó, uỷ ban trọng tài tính được số tiền thiệt hại thực tế mà Bị đơn phải chịu là 227.197.000 VND. Vì vậy, uỷ ban trọng tài quyết định buộc Nguyên đơn phải bồi thưòng cho Bị đơn 227.197.000 VND và bác các yêu cầu còn lại của Bị đơn.

Bình luận và lưu ý:

Từ vụ kiện nêu trên có thể rút ra các kết luận sau đây:

Khi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm luôn nêu ra các lý do để thoái thác trách nhiệm, kể cả lý do chủ quan và khách quan. Do vậy, bên bị vi phạm phải căn cứ vào hợp đồng và luật áp dụng cho hợp đồng để bác những lý do đòi miễn trách không xác đáng. Chỉ khi nào việc vi phạm hợp đồng do chính những căn cứ miễn trách được quy định trong hợp đồng hoặc trong luật gây nên thì bên vi phạm mới được miễn trách nhiệm.

Khi đòi Bị đơn bồi thường thiệt hại thì Nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại, phải cung cấp tài liệu, chứng từ chứng minh cho số thiệt hại đó. Những thiệt hại đòi bồi thuờng phải có thực và xác định được. Nếu không có chứng từ làm bằng chứng cho thiệt hại thì yêu cầu đòi bồi thường sẽ bị bác. Trong vụ kiện này, Nguyên đơn đòi bồi thường

Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn ra trọng tài đòi Bị đơn phải trả các khoản tiền sau:

- Tiền hàng

- Tiền lãi của tiền hàng

- Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax.

Trong văn thư phản bác đơn kiện Bị đơn trình bày như sau:

>> Xem thêm:  Những nguyên tắc pháp lý trong thương mại quốc tế về lĩnh vực dịch vụ của GATT

Ngày 10 tháng 6 năm 1997 Bị đơn đã ký Hợp đồng với Nguyên đơn để nhập khẩu uỷ thác cho Cửa hàng A. Theo Biên bản thoả thuận ký ngày 10 tháng 6 năm 1997 giữa ba bên (Bị đơn, Nguyên đơn và cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho Nguyên đơn là cửa hàng A, cho nên Nguyên đơn không có quyền kiện Bị đơn trả tiền hàng.

5. Phán quyết của trọng tài:

5.1. Về nghĩa vụ trả tiền của Bị đơn:

Theo Hợp đồng ngày 10 tháng 6 năm 1997, việc thanh toán tiền hàng được thực hiện bằng TTR trong vòng 7 ngày kể từ ngày Bị đơn (ngứời mua) nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưỗng lợi là Nguyên đơn. Song cho đến ngày uỷ ban trọng tài xét xử vụ kiện Nguyên đơn vẫn chưa nhận được tiền hàng, mặc dù Bị đơn đã nhận được chứng từ vận tải gốc và hoá đơn thương mại từ cuối tháng 6 năm 1997. Rõ ràng là Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng.

Uỷ ban trọng tài không thừa nhận Biên bản thoả thuận ba bên ngày 10 tháng 6 năm 1997 là cơ sỏ để Bị đơn từ chối nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng ngày 10 tháng 6 năm 1997, bỏi vì:

Thứ nhất, trong Biên bản thoả thuận ba bên không có điểm nào quy định rằng Biên bản thoả thuận này là một bộ phận không thể tách rời của Hợp đồng. Trong Hợp đồng cũng không có điều nào quy định rằng Biên bản thoả thuận ba bên này được bổ sung cho Hợp đồng và là một bộ phận không thể thiếu của Hợp đồng.

Thứ hai, việc quy định rằng Bị đơn chỉ vì và nhân danh Cửa hàng A (ở mục 1 Biên bản thoả thuận ba bên) tự bản thân nó đã mâu thuẫn với bản chất của một hợp đồng uỷ thác. Điều 99 Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định: “uỷ thác mua bán hàng là hành vi thương mại, theo đó, bên được uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận phí uỷ thác”. Như vậy, bản chất của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá là bên nhận uỷ thác, để được hưỏng phí uỷ thác, thì phải nhân danh bản thân mình thực hiện các công việc đã được uỷ thác với người thứ ba, chứ không phải nhân danh người uỷ thác. Với lập luận của Bị đơn, rõ ràng, bằng Biên bản thoả thuận ba bên ký ngày 10 tháng 6 năm 1997, Bị đơn, một mặt muốn nhận phí uỷ thác, nhưng mặt khác lại không muốn nhận trách nhiệm về mình qua việc nhân danh mình được thực hiện hợp đồng với người thứ ba (tức là với Nguyên đơn trong Hợp đồng).

Thứ ba, Điều 4 Hợp đồng quy định việc thanh toán được thực hiện bằng phương thức TTR, chuyển trả cho ngưòi hưỏng lợi là Nguyên đơn, có tài khoản ở Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải - Chi nhánh tại Singapore. Biên bản thoả thuận ba bên lại quy định cửa hàng A chịu trách nhiệm trả tiền cho Nguyên đơn - đối tác ỏ Singapore. Điều này không thể thực

hiện được, vì Cửa hàng A không được làm việc đó theo quy định của pháp luật.

Từ đó, uỷ ban trọng tài quyết định Bị đơn phải trả toàn bộ tiền hàng cho Nguyên đơn.

5.2. Về các khoản tiền thiệt hại do Nguyên dơn đòi:

Vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng gây thiệt hại cho Nguyên đơn thì Bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường.

>> Xem thêm:  Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại - Lịch sử ra đời, phạm vi điều chỉnh và những thiếu sót

Về tiền lãi của tiền hàng: uỷ ban trọng tài chấp nhận yêu cầu đòi tiền lãi của Nguyên đơn. Tuy nhiên, mốc thời gian tính lãi suất uỷ ban trọng tài chỉ thừa nhận từ ngày 16 tháng 12 năm 1999, bởi vì ngày 1 tháng 12 năm 1999 Nguyên đơn gửi cho BỊ đơn thư yêu cầu thanh toán, trong đó yêu cầu Bị đơn phải thanh toán tiền hàng cho Nguyên đơn trong vòng 15 ngày kể từ ngày gửi thư yêu cầu, thời hạn trả chậm nhất là ngày 15 tháng 12 năm 1999, vì vậy Nguyên đơn được coi là đã tự nguyện gia hạn thời hạn trả tiền hàng đến ngày 15 tháng 12 năm 1999.

Về phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax: uỷ ban trọng tài bác các phí này, bồi vì Nguyên đơn chỉ liệt kê nhưng không cung cấp được các bằng chứng hợp lệ chứng minh cho các khoản phí.

Bình luận và lưu ý:

Bị đơn là người mua có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyên đơn là ngưồi bán. Trong vụ kiện này Bị đơn không trực tiếp thực hiện nghĩa vụ trả tiền mà lại chỉ định người thứ ba (Cửa hàng A) thay mình trả tiền cho Nguyên đơn và đã được Nguyên đơn đồng ý. Bằng chứng là Biên bản thoả thuận ba bên số 9623/INUT.97 ngày 10 tháng 6 năm 1997. Như vậy, thực chất là Bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thông qua người thứ ba, và do đó Bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm về việc làm của người thứ ba. Nếu người thứ ba thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì BỊ đơn hết trách nhiệm, ngược lại nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện sai nghĩa vụ trả tiền thì Bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm trưóc Nguyên đơn. Do vậy, Nguyên đơn kiện Bị đơn đòi trả tiền hàng khi người thứ ba (Cửa hàng A) không trả là hoàn toàn đúng. Bị đơn không có quyền dựa vào Biên bản thoả thuận ba bên về việc quy định người thứ ba (Cửa hàng A) có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả tiền để thoát trách nhiệm trước Nguyên đơn. Muốn không chịu trách nhiệm trước Nguyên đơn thì Bị đơn phải có văn bản chuyển nghĩa vụ trả tiền (thê nghĩa vụ) từ Bị đơn sang người thứ ba, có sự đồng ý của Nguyên đơn.

>> Xem thêm:  Các tiêu chuẩn an toàn, quy tắc thương mại và chính sách đối nội sau khi WTO vừa ra đời

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bản chất của hợp đồng ủy thác?

Trả lời:

Hợp đồng uỷ thác phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có gá trị pháp lí tương đương và nội dung hợp đồng không được trái với quy định của pháp luật. Về bản chất, hợp đồng uỷ thác là một hợp đồng dịch vụ mà trong đó đối tượng của hợp đồng là công việc mua bán hàng hoá. Việc xác lập hợp đồng uỷ thác trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận nhằm đề cao tinh thần thiện chí hợp tác trong việc thực hiện cũng như bảo vệ quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Câu hỏi: Quy định về tính dự đoán trước của thiệt hại trong thương mại quốc tế?

Trả lời:

Công ước CISG theo thuyết tính dự đoán trước của thiệt hại khi nêu cụ thể rằng thiệt hại phải là những tổn thất mà bên vi phạm hợp đồng đã dự đoán được hoặc buộc phải dự đoán trước được trong thời điểm ký kết hợp đồng như là hậu quả có thể xảy ra đối với vi phạm hợp đồng đó. Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có những quy định cụ thể về tính dự đoán trước của thiệt hại ở Điều 7.4.4: “Bên có nghĩa vụ chỉ chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại mà mình đã dự đoán trước hoặc đã có thể dự đoán trước một cách hợp lý, vào thời điểm giao kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra từ việc không thực hiện”.

Câu hỏi: Quy định về giá trị tính toán của các khoản bồi thường thiệt hại trong thương mại quốc tế?

Trả lời:

Công ước CISG và Bộ nguyên tắc Unidroit có phương thức tính toán thiệt hại gần giống nhau trong trường hợp hợp đồng bị hủy. Điều 75 Công ước CISG đưa ra cách tính toán thiệt hại trong trường hợp hợp đồng bị hủy và bên bị vi phạm đã ký một hợp đồng thay thế. Lúc này bên bị thiệt hại sẽ được bồi thường khoản chênh lệch giữa giá theo hợp đồng và giá của giao dịch thay thế. Điều 76 đưa ra cách tính toán thiệt hại trong trường hợp hủy hợp đồng nhưng bên bị thiệt hại đã không ký hợp đồng thay thế. Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có những điều khoản tương tự là Điều 7.4.5 và 7.4.6.

Tuy nhiên, không tìm thấy những quy định tương tự như vậy trong Luật Thương mại Việt Nam mặc dù trong thực tế cách tính toán thiệt hại như trên là khá thông dụng14.