Tổng quan về tư duy: Mặc dù giải quyết tranh chấp chắc chắn không phải là điều đầu tiên các bên nghĩ đến khi ký kết một hợp đồng quốc tế, các bên vẫn nên nhận thức rằng các bất đồng và tranh chấp có thể phát sinh bất cứ lúc nào. Tranh chấp và bất đồng này có thể liên quan đến các khía cạnh khác nhau của một hợp đồng kinh tế. Điều quan trọng đối với các bên trong hợp đồng là dự đoán các tranh chấp có thể xảy ra và xác định trước phương thức, hoặc một sự kết hợp các phương thức, nhằm ngăn ngừa hoặc giải quyết các tranh chấp.

Người làm kinh doanh nên đặt hai câu hỏi khi ký kết một hợp đồng quốc tế:

Thứ nhất, công ty của mình dự đoán được những loại tranh chấp nào ?  

Thứ hai, có những phương thức nào để ngăn ngừa hoặc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế ?  

 

Các loại tranh chấp thương mại quốc tế có thể phát sinh theo các dạng hợp đồng sau:

 

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá

Khi hợp đồng liên quan tới mua bán hàng hoá, tranh chấp có thể phát sinh về :

(1) chất lượng hàng hoá;

(2) giá cả và thanh toán;

(3) vận chuyển và các điều kiện giao hàng.

Có thể tránh tranh chấp bằng cách đưa vào hợp đồng các quy định rõ ràng về những vấn đề này. Các bên có thể tham khảo:

+ Hợp đồng mẫu của ITC về mua bán quốc tế thực phẩm dễ hỏng (The ITC Model Contract for the International Sale of Perishable Goods): các nước đang phát triển có thể nhận mẫu hợp đồng này miễn phí từ Trung tâm thương mại quốc tế (the International Trade Centre), địa chỉ: Palais des Nations, 1211 Geneva 10, Switzerland; http://www.intracen.org.

+ Hợp đồng mua bán quốc tế mẫu của ICC: Hàng hoá được sản xuất để bán lại (The ICC Model International Sale Contract: Manufactured Goods Intended for Resale): có thể nhận hợp đồng mẫu này từ ICC Publishing SA, địa chỉ: 38 Cours Albert 1er, 75008 Paris, France; http://www.iccwbo.org.

+ Các hợp đồng mua bán hàng hoá mẫu khác có thể xem tại website của ITC  Juris International http://www.jurisint.org.

Lưu ý rằng Incoterm cũng là nguồn tham khảo cơ bản để tránh tranh chấp trong hợp đồng mua bán. Incoterms định nghĩa rõ ràng trách nhiệm của người mua và người bán đối với việc giao hàng, bảo hiểm, thủ tục hải quan,v.v… và Incoterms được cơ quan hải quan và toà án ở hầu hết các nước công nhận là chuẩn quốc tế. Mục đích của Incoterm do Phòng Thương mại Quốc tế soạn thảo (ICC) là nhằm cung cấp một bộ quy tắc giải thích các thuật ngữ thường sử dụng trong thương mại quốc tế. Vì vậy, có thể tránh được, hoặc ít nhất giảm đáng kể được những điểm không rõ ràng phát sinh từ các cách giải thích hợp đồng khác nhau ở những nước khác nhau. Phiên bản Incoterm mới nhất có hiệu lực từ tháng 1 năm 2000, có tất cả 13 điều khoản (phiên bản trước từ năm 1990). Khi Incoterm được đưa vào hợp đồng, nhằm tránh sự nhập nhằng, ICC khuyến nghị  nên đưa cụm từ “Incoterms 2000″ vào, ví dụ: “…FOB Kuala Lumpur, Incoterms 2000.”

Các tranh chấp cũng có thể phát sinh liên quan tới việc mở thư tín dụng, các điều kiện chuyển tiền thanh toán, thời gian thanh toán,v.v…Các tranh chấp về thư tín dụng hiện nay có thể giải quyết thông qua một quy trình gọi là Thẩm định tranh chấp tín dụng chứng từ (DOCDEX) chỉ trên cơ sở các chứng từ và do Phòng thương mại quốc tế giám sát.

Trong lĩnh vực hàng hoá, việc mua bán thường được tiến hành trên cơ sở ký gửi, không có bất kỳ một hợp đồng nào. Nếu các bên không có quan hệ lâu dài, việc không ký hợp đồng sẽ khiến người bán rơi vào tình cảnh bất lợi khi có tranh chấp phát sinh về chất lượng, số lượng hoặc giá cả hàng hoá. => Lúc đó, vụ việc có thể sẽ phải đưa ra các toà án quốc gia tại nơi người mua tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Trong giao dịch mua bán các hàng hoá đặc biệt như cà phê, ngũ cốc, cô ca, dầu và mỡ, các hiệp hội ngành nghề liên quan đã hình thành các hợp đồng mẫu chuẩn bao gồm các điều khoản thường dẫn chiếu quy tắc tố tụng trọng tài của chính các tổ chức đó. Các quy tắc tố tụng trọng tài chuyên ngành giản lược này chủ yếu giải quyết vấn đề chất lượng của một loại hàng hoá và thường dựa trên cơ sở tính thiết thực.

 

2. Hợp đồng phân phối, đại lý và trung gian  

Với hợp đồng phân phối, các tranh chấp có thể phát sinh trên nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ:

- Nhà sản xuất/người bán không cung cấp hàng hoá cho nhà phân phối/đại lý theo đúng hợp đồng, hoặc vào thời điểm quy định trong hợp đồng;

- Nhà sản xuất/người bán cung cấp hàng hoá cho các đối thủ cạnh tranh của nhà phân phối/đại lý, trong trường hợp hợp đồng phân phối quy định rõ ràng cho nhà phân phối/đại lý độc quyền;

- Nhà phân phối/đại lý không mua của nhà sản xuất/người bán số lượng hàng đã quy định trong hợp đồng, hoặc không mua vào thời điểm đã thoả thuận;

- Nhà phân phối/đại lý phân phối hàng hoá ngoài khu vực mà nhà sản xuất/người bán cho phép;

- Nhà phân phối/đại lý chỉ định nhà phân phối phụ/đại lý phụ, trong trường hợp nhà sản xuất/người bán không cho phép điều này;

- Nhà phân phối/đại lý bắt đầu sản xuất các sản phẩm tương tự như các sản phẩm của nhà sản xuất/người bán, trong trường hợp sản xuất song song không được phép;

- Nhà phân phối/đại lý từ chối thanh toán cho nhà sản xuất/người bán.

Các bên có thể sử dụng các phương thức khác nhau để giải quyết các tranh chấp nói trên. Trong một số trường hợp nhất định, có thể chỉ cần nhờ đến một chuyên gia để giám định chất lượng hàng hoá hoặc số lượng hàng hoá đại lý bán được. Với các tranh chấp khác, ví dụ như tranh chấp liên quan tới chấm dứt hợp đồng, có thể đưa vụ việc ra toà hoặc trọng tài. Vì các hợp đồng này liên tới các thông tin thương mại nhạy cảm và bí mật nên một số doanh nhân có thể muốn quy định trọng tài trong hợp đồng của họ.

 

3. Hợp đồng xây dựng, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng quốc tế

Việc thực hiện các hợp đồng xây dựng và kỹ thuật quốc tế thường kéo dài nhiều năm và liên quan đến số tiền lớn.

Ví dụ, tranh chấp có thể phát sinh vì:

+ Công trình được xây dựng hoặc thiết kế kỹ thuật không phù hợp với các quy định của hợp đồng;

+ Công trình không hoàn thành trong thời hạn quy định của hợp đồng;

+ Việc xây dựng đòi hỏi nhiều các nguyên vật liệu và kết cấu hơn, hoặc các nguyên vật liệu và kết cấu mới không được quy định trong hợp đồng hoặc không theo giá đã thoả thuận;

+ Chính quyền quốc gia nơi việc xây dựng đang được tiến hành áp dụng những quy định mới, ảnh hưởng tới quy mô và giá cả của các công trình;

+ Các nhà thầu phụ được mời thực hiện một phần hợp đồng không thực hiện đúng các quy định hợp đồng đã thoả thuận giữa nhà thầu chính và chủ các công trình;

+ Chủ công trình từ chối bảo đảm thanh toán, hoặc từ chối thanh toán toàn bộ hoặc một phần công trình đã hoàn thành; hoặc

+ Nhà thầu không đưa ra bảo đảm thực hiện, hoặc bất kỳ bảo đảm nào khác.

Sẽ không bình thường nếu phải giải quyết các tranh chấp trong các giai đoạn khác nhau của một hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, điều quan tâm đặc biệt là kế hoạch xây dựng không bị gián đoạn trong khi giải quyết các tranh chấp.

Bởi thời gian, quy mô và chi phí tốn kém của các hợp đồng xây dựng, các điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng xây dựng thường được soạn thảo tỉ mỉ, dù trên cở sở vụ việc hay theo các tiêu chuẩn sẵn có. Trước đây, nếu tranh chấp phát sinh, kỹ sư xây dựng do chủ công trình thuê, hành động một cách khách quan, có quyền ra các quyết định – các quyết định này cuối cùng có thể được trọng tài xem xét lại. Từ giữa những năm 90, đa số các điều khoản trong hợp đồng lớn đều kết hợp sự can thiệp của một uỷ ban phân xử tranh chấp hoặc một uỷ ban xem xét tranh chấp và của trọng tài.

Điều kiện hợp đồng (Conditions of Contracts) của Hiệp hội các nhà tư vấn xây dựng quốc tế (FIDIC – International Federation of Consulting Engineers) quy định những thủ tục thích hợp để giải quyết khiếu kiện giữa các bên trong hợp đồng xây dựng. Điều kiện này bao gồm các điều khoản quy định tranh chấp được xem xét bởi một uỷ ban phân xử tranh chấp (DAB) gồm một hoặc ba người, sau đó có thể đưa tranh chấp ra trọng tài. Tài liệu đấu thầu chuẩn cho việc mua sắm của các công trình (The World Bank’s Standard Bidding Document for Procurement of Works 1995) quy định sử dụng các uỷ ban xem xét tranh chấp đối với tất cả các hợp đồng trị giá trên 50 triệu Đôla Mĩ.

Trong các trường hợp khác, hợp đồng có thể phải do bên thứ ba giải thích hoặc sửa đổi, hoặc do toà án hay trọng tài giải thích.

 

3.1 Nên sử dụng loại hợp đồng nào của FIDIC ?

FIDIC (International Federation of Consulting Engineers) từ lâu đã nổi tiếng với những mẫu hợp đồng chuẩn giữa chủ công trình và nhà thầu trong các dự án xây dựng quốc tế. Những mẫu này quy định sự phối hợp giữa các bộ phận nhằm ngăn ngừa hoặc giải quyết tranh chấp. Tháng 9 năm 1999, FIDIC ban hành một bộ gồm bốn mẫu hợp đồng chuẩn, phù hợp với đa số các dự án lắp đặt nhà máy và xây dựng trên toàn thế giới, bao gồm:

- Các điều kiện hợp đồng xây dựng cho các công trình xây dựng và kỹ thuật do chủ công trình thiết kế: Hợp đồng xây dựng (Conditions of Contract for Construction for Building and Engineering Works Designed by the Employer: the Construction Contract);

- Các điều kiện hợp đồng lắp đặt và thiết kế/xây dựng cho nhà máy cơ khí và điện và cho các công trình xây dựng và kỹ thuật  do chủ thầu thiết kế: Hợp đồng lắp đặt và thiết kế/xây dựng (Conditions of Contract for Plant and Design/Build for Electrical and Mechanical Plant and for Building and Enineering Works Designed by the Contractor: the Plant and Design/Build Contract);

- Các điều kiện hợp đồng kỹ thuật, mua sắm và xây dựng/Các dự án chìa khoá trao tay: Hợp đồng EPC/chìa khoá trao tay (Conditions of Contract for Engineering, Procurement and Construction (EPC)/Turnkey Projects: the EPC/Turnkey Contract);

- Mẫu hợp đồng dạng ngắn: mẫu ngắn (Short Form of Contract: the Short Form)

FIDIC mong muốn rằng bộ hợp đồng mẫu mới này sẽ thay thế Sách đỏ (1987), Sách vàng (1987) và Sách da cam (1995).

Dưới đây là bản tóm tắt lưu ý của Ban thư ký FIDIC về chọn hợp đồng mẫu FIDIC. Muốn biết thêm chi tiết, xin liên hệ: FIDIC, BP 86, CH-1000 Lausane 12, Switzerland, Tel: +41-21-654 44 11, Fax: +41-21-654 54 32; [email protected]; http://www.fidic.org.

 

3.2 Đối với các dự án xây dựng nhỏ ?

Liệu công trình có giá trị nhỏ, liên quan tới thời gian xây dựng ngắn hoặc công việc đơn giản hoặc lặp đi lặp lại không?

Nếu hợp đồng có giá trị tương đối nhỏ dưới 500.000 Đôla Mĩ, hoặc thời gian xây dựng ngắn dưới sáu tháng, hoặc công việc tương đối đơn giản hoặc lặp đi lặp lại – ví dụ như công việc nạo vét lòng sông – thì nên dùng Mẫu hợp đồng ngắn. Không cần quan tâm tới liệu thiết kế có phải do Chủ công trình (hoặc do Kỹ sư xây dựng/Kiến trúc sư nếu đó chỉ là một người) hay do Chủ thầu đưa ra hay không; hoặc liệu dự án có liên quan tới xây dựng, công việc kỹ thuật, máy móc, điện,v.v..hay không.

 

3.3 Đối với các dự án xây dựng có tính chất phức tạp ?  

Các câu hỏi dự liệu cần đặt ra để phân tích các tranh chấp có thể phát sinh như:

1. Liệu có phải Chủ công trình (hoặc Kỹ sư xây dựng) sẽ làm hầu hết công việc thiết kế không ?

Trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các toà nhà và nhà máy thuỷ điện từ trước đến nay, Chủ công trình gần như làm hết công việc thiết kế (có thể trừ những chi tiết xây dựng và gia cố), và chủ công trình luôn được thông báo đầy đủ và có thể đưa ra các thay đổi. Kỹ sư giám sát Hợp đồng, giám sát công việc xây dựng và bảo đảm việc thanh toán. Việc thanh toán được tiến hành dựa trên các hoá đơn về số lượng hoặc tổng số tiền để hoàn thành công trình đã được thông qua.

Trong trường hợp này, chọn Hợp đồng xây dựng. Mẫu hợp đồng này đổi mới và thay thế Sách đỏ năm 1987 một cách có hiệu quả.

 

2. Liệu có phải Chủ thầu sẽ làm hầu hết công việc thiết kế không ?

Trong các dự án công trình về máy móc và điện (kể cả xây dựng tại chỗ) từ trước đến nay:

- Chủ thầu (hoặc Người cung cấp) làm hầu hết công việc thiết kế và dự án phải hoàn thành Các yêu cầu của Chủ công trình (Employer’s Requirements) – một bản đề cương hoặc bản chi tiết thực hiện do Chủ công trình chuẩn bị;

- Kỹ sư xây dựng thực hiện hợp đồng và giám sát việc sản xuất và xây dựng tại chỗ, hoặc công việc xây dựng và việc thanh toán đã được bảo đảm; và

- Thanh toán được tiến hành theo số lượng công trình đã hoàn thành, thông thường trên cơ sở tổng số tiền cần để hoàn thành phần công trình đó.

Trong trường hợp này, chọn Hợp đồng Lắp đặt và Thiết kế/Xây dựng. Mẫu hợp đồng này đổi mới và thay thế một cách có hiệu quả cả Sách Vàng năm 1987 và Sách Da cam năm 1995.

 

3. Liệu đây có phải là Dự án thuộc loại Xây dựng/Hoạt động/Chuyển giao (BOT) do cá nhân bỏ vốn không ? (Người được nhượng quyền chịu toàn bộ trách nhiệm bỏ vốn, xây dựng và điều hành Dự án)

Người được nhượng quyền (Chủ công trình) có thể yêu cầu một hợp đồng với Chủ thầu xây dựng (Hợp đồng Thiết kế kỹ thuật/Mua sắm/Xây dựng – Hợp đồng EPC), khi đó Chủ thầu chịu toàn bộ trách nhiệm thiết kế và xây dựng cơ sở hạ tầng và các tiện nghi khác, và khi đó có một mức độ bảo đảm cao hơn là giá cả và thời gian thực hiện hợp đồng sẽ không bị tăng thêm. Trong trường hợp này:

- Chủ công trình không muốn liên quan tới tiến độ hàng ngày của công trình, miễn là kết quả cuối cùng thoả mãn các điều kiện thực hiện hợp đồng đã quy định; và

- Các bên liên quan (đó là các nhà tài trợ, người cho vay vốn và Chủ công trình) sẵn lòng trả cho Chủ thầu nhiều hơn để xây dựng Dự án, đổi lại Chủ thầu phải chịu các rủi ro về giá cuối cùng và thời hạn hoàn thành công trình.

Trong trường hợp này, chọn Hợp đồng chìa khoá trao tay/EPC là thích hợp.

Đối với hợp đồng chìa khóa trao tay (EPC):

1. Liệu đây có phải là một Nhà máy chế biến hoặc một Nhà máy năng lượng mà Chủ công trình – người cung cấp tài chính – muốn điều hành Dự án trên Cơ sở chìa khoá trao tay và giá cố định không?

2. Liệu đây có phải là một Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (ví dụ: đường bộ hoặc đường xe lửa, cầu cống, nhà máy xử lý nước thải hoặc nhà máy nước, đường điện, đập hoặc nhà máy thuỷ điện, v.v…) mà Chủ công trình – người cung cấp tài chính – muốn thực hiện Dự án trên Cơ sở chìa khoá trao tay và giá cố định không?

3. Liệu đây có phải là một Dự án xây dựng mà Chủ công trình muốn có các toà nhà được xây dựng trên Cơ sở chìa khoá trao tay và giá cố định, nói chung được tranh bị đầy đủ đồ gia dụng, máy móc và thiết bị không?

Trong cả ba trường hợp này, có thể chọn Hợp đồng chìa khoá trao tay EPC.

Ngoài ra còn có các hợp đồng khác liên quan đến sở hữu trí tuệ, đăng ký tên miền quốc tế ... Chúng tôi sẽ phân tích ở một bài viết cụ thể khác. Mọi vướng mắc có thể trao đổi với luật sư của Công ty luật Minh Khuê qua số: 1900.6162để được hướng dẫn tư vấn pháp luật chi tiết, cụ thể theo từng trường hợp phát sinh.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)