1. Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về mức tối đa tiền lương bị khấu trừ của người lao động hằng tháng hay không?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 102 Bộ Luật Lao động năm 2019, mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được vượt quá 30% tiền lương thực trả hàng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Quy định này có mục đích đảm bảo rằng sau khi người lao động trích nộp các khoản bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân theo quy định, họ vẫn có mức tiền lương đủ để chi tiêu cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và duy trì cuộc sống. Giới hạn mức khấu trừ tiền lương hằng tháng như trên giúp đảm bảo rằng người lao động không bị khủng bố trong việc mất quá nhiều tiền lương do các khoản khấu trừ. Nó cũng đảm bảo rằng người lao động vẫn có khả năng đáp ứng các chi phí cơ bản như chi tiêu cho gia đình, chi trả các khoản vay mượn hoặc các khoản nợ cá nhân khác.

Mức giới hạn 30% được thiết lập nhằm đảm bảo sự cân đối giữa quyền lợi của người lao động và khả năng tài chính của công ty. Nếu mức khấu trừ tiền lương vượt quá 30%, người lao động có thể gặp khó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống hàng ngày và duy trì mức sống tối thiểu. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người lao động, đồng thời tạo điều kiện công bằng và hợp lý trong việc khấu trừ tiền lương hàng tháng.

Như vậy, Bộ Luật Lao động năm 2019 có quy định về mức tối đa tiền lương bị khấu trừ của người lao động hằng tháng. Cụ thể thì quy định rằng mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được vượt quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, nhằm đảm bảo người lao động vẫn có đủ tiền để chi tiêu cho đời sống hàng ngày.

 

2. Trường hợp nào người lao động bị khấu trừ lương

Theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ có quyền khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật. Điều này có nghĩa là người sử dụng lao động không được khấu trừ tiền lương của người lao động cho bất kỳ lý do nào khác ngoài việc bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động.

Hơn nữa, người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình. Điều này đảm bảo rằng người lao động sẽ được thông báo và hiểu rõ về việc khấu trừ tiền lương của mình và lý do cụ thể liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Quy định cũng ràng buộc người sử dụng lao động về mức độ khấu trừ tiền lương. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được vượt quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi đã trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, quy định về khấu trừ tiền lương nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động và hạn chế việc sử dụng quyền khấu trừ tiền lương một cách lạm dụng từ phía người sử dụng lao động. 

 

3. Việc khấu trừ lương của người lao động có cần sự tham gia ý kiến của đại diện tập thể lao động tại cơ sở khong?

Theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Lao động năm 2019, việc xử lý kỷ luật lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Điều này áp dụng không chỉ cho việc xử lý kỷ luật lao động mà còn cho các quyết định liên quan đến khấu trừ tiền lương của người lao động. Khi người lao động gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Lao động, quyết định về việc bồi thường và khấu trừ tiền lương phải được thực hiện sau khi có sự tham gia ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Điều này đảm bảo quyền lợi và quyền tự bào chữa của người lao động trong quá trình xem xét và quyết định mức bồi thường và khấu trừ tiền lương.

=> Qua đó, việc tham gia ý kiến của đại diện tập thể lao động tại cơ sở đối với khấu trừ tiền lương của người lao động là một quyền lợi được đảm bảo để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý các vấn đề liên quan đến tiền lương và bồi thường thiệt hại.

 

4. Người sử dụng lao động khấu trừ lương của người lao động trái quy định của pháp luật

Căn cứ vào khoản 2 và khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, vi phạm quy định về tiền lương sẽ bị xử phạt như sau:

- Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có các hành vi vi phạm, bao gồm:

+ Trả lương không đúng hạn theo quy định.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động.

+ Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động.

+ Ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

+ Khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động khi tạm thời chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công.

+ Không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.

+ Không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc.

+ Không trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc khi người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động.

- Mức phạt tiền cho vi phạm trên được quy định như sau:

+ Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động.

+ Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động.

+ Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động.

+ Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động.

+ Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

- Biện pháp khắc phục hậu quả:

+ Đối với người sử dụng lao động cá nhân: Người sử dụng lao động sẽ bị buộc trả đủ tiền lương bị khấu trừ cộng với khoản tiền lãi tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt.

+ Đối với tổ chức: Mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân, theo quy định. Vì vậy, trong trường hợp công ty vi phạm khấu trừ lương của người lao động, công ty có thể bị áp dụng mức phạt tiền tương ứng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách trả đủ tiền lương bị khấu trừ cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương đó.

Việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo tính công bằng và đúng đắn trong quan hệ lao động. Các biện pháp này sẽ cung cấp sự đền bù cho người lao động bị khấu trừ lương trái quy định và đồng thời tạo ra sự đánh giá nghiêm khắc đối với việc vi phạm từ phía người sử dụng lao động.

Để nắm được thêm thông tin liên quan đến việc khấu trừ lương của người lao động thì quý khách tham khảo qua bài viết sau: Nguyên tắc khấu trừ lương của người lao động được quy định như thế nào ?

Để được tư vấn trực tiếp và nhanh chóng, quý khách hàng có thể liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162. Quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Chân thành cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng. Chúng tôi luôn sẵn lòng đồng hành và hỗ trợ trong mọi vấn đề pháp lý quan trọng của quý khách.