1. Quy định trừ lương nhân viên theo pháp luật
Trong hành trình hàng ngày của chúng ta, không hiếm những tình huống mà nhân viên phải đối mặt với việc bị trừ tiền, phạt tiền do muộn giờ, vi phạm các quy định nội quy hoặc không hoàn thành công việc đúng theo yêu cầu. Đây đều là những hành vi đánh giá là vi phạm kỷ luật lao động. Nếu những hành động này thường đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Lao động, không được phép sử dụng việc trừ lương như một hình thức xử lý kỷ luật lao động. Điều này có nghĩa là khi có vi phạm kỷ luật, doanh nghiệp không thể áp dụng biện pháp trừ lương để thay thế cho quá trình xử lý theo quy định. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì tính minh bạch và công bằng trong quản lý lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi và nguyên tắc cơ bản của người lao động.
Cụ thể, theo Điều 118 của Bộ luật Lao động 2019, các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên được yêu cầu phải có nội quy về kỷ luật lao động được thể hiện bằng văn bản. Trong phần này, nội quy cần đề cập đến các hành vi vi phạm lao động và cách xử lý kỷ luật lao động.
Ngoài ra, theo Điều 124 của cùng Luật Lao động 2019, có tồn tại bốn hình thức xử lý kỷ luật đối với người lao động (NLĐ) vi phạm, bao gồm:
- Khiển trách.
- Kéo dài thời gian được nâng lương, nhưng không vượt quá 06 tháng.
- Cách chức.
- Sa thải.
Khi doanh nghiệp hoặc công ty thực hiện quy trình kỷ luật lao động, Điều 127 của Luật Lao động 2019 chỉ rõ những hành vi sau đây được coi là nghiêm cấm:
- Xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, uy tín, tính mạng và nhân phẩm của người lao động.
- Áp đặt phạt tiền hoặc trừ lương như một hình thức xử lý kỷ luật lao động.
- Thực hiện quy trình kỷ luật đối với người lao động vi phạm mà không tuân theo quy định trong nội quy lao động hoặc các quy định của pháp luật về lao động.
- Áp dụng phương thức xử lý kỷ luật lao động không được thỏa thuận trước đó trong hợp đồng lao động (HĐLĐ) mà đã ký kết với người lao động.
Do đó, việc áp đặt phạt tiền hoặc trừ lương để thay thế cho quá trình xử lý kỷ luật lao động là một trong những hành vi bị nghiêm cấm khi doanh nghiệp thực hiện quy trình kỷ luật lao động.
2. Có được trừ lương người lao động để bồi thường cho công ty hay không?
Theo điều 2 của Điều 129 trong Bộ Luật Lao động năm 2019, quy định về bồi thường thiệt hại như sau:
- Người lao động nếu làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc thực hiện các hành vi khác dẫn đến thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động, phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc theo nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Trong trường hợp người lao động gây ra thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, với giá trị không vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng được Chính phủ công bố tại địa phương làm việc, người lao động phải bồi thường tối đa là 3 tháng tiền lương. Số tiền này sẽ được khấu trừ hàng tháng từ lương của người lao động theo quy định tại Điều 102, Khoản 3 của Bộ Luật Lao động.
- Người lao động nếu làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc tài sản của người sử dụng lao động, hoặc tiêu hao vật tư vượt quá mức cho phép theo định mức, phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ. Số tiền bồi thường sẽ được xác định theo thời giá thị trường hoặc theo nội quy lao động. Trong trường hợp có hợp đồng trách nhiệm, người lao động phải tuân theo các điều khoản trong hợp đồng đó. Không phải bồi thường nếu thiệt hại do các nguyên nhân như thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa hoặc các sự kiện khách quan không thể lường trước và không thể khắc phục được, mặc dù đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Theo quy định tại Điều 102 của Bộ Luật Lao động năm 2019 về việc khấu trừ tiền lương, có các điều sau đây:
- Người sử dụng lao động chỉ được áp dụng khấu trừ tiền lương của người lao động để đền bù thiệt hại do người lao động gây ra làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, hoặc tài sản của người sử dụng lao động, theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật.
- Người lao động có quyền biết lý do khi bị khấu trừ tiền lương của mình.
- Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được vượt quá 30% của tổng số tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động, sau khi đã trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, và thuế thu nhập cá nhân.
Do đó, người sử dụng lao động chỉ có quyền khấu trừ tiền lương của người lao động để đền bù thiệt hại do người lao động gây ra làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, hoặc tài sản của người sử dụng lao động. Cụ thể:
- Trong trường hợp người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, hoặc có hành vi khác dẫn đến thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động, người lao động phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc theo nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Nếu thiệt hại không nghiêm trọng và có giá trị không vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại địa phương làm việc, người lao động sẽ phải bồi thường tối đa là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật.
- Nếu người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, hoặc tài sản của người sử dụng lao động, hoặc tiêu hao vật tư vượt quá mức cho phép theo định mức, người lao động phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại, được xác định theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động.
Trong trường hợp có hợp đồng trách nhiệm, người lao động phải tuân theo các điều khoản trong hợp đồng. Không có bồi thường nếu thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, hoặc các sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước và không thể khắc phục được, mặc dù đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Như vậy, việc khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng tài sản của người sử dụng lao động chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện quy định như trên.
3. Trừ lương trái quy định bị phạt như thế nào?
Theo Điều 124 của Bộ Luật Lao động năm 2019, cắt lương không được coi là một phương pháp xử lý kỷ luật đối với Người lao động (NLĐ). Trừ khi có các trường hợp được phép khấu trừ lương như mô tả, việc tự ý trừ lương của NLĐ từ phía công ty có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 3 của Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Cụ thể, người sử dụng lao động có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu họ áp dụng hình thức phạt tiền hoặc cắt lương thay vì thực hiện quy trình xử lý kỷ luật lao động.
Lưu ý rằng mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân và tổ chức khác nhau. Đối với các tổ chức, mức phạt tiền là gấp đôi so với mức áp dụng cho cá nhân.
Do đó, trong trường hợp người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hành vi cắt lương thay vì thực hiện quy trình xử lý kỷ luật có thể dẫn đến mức phạt lên đến 80 triệu đồng.
Để khắc phục hậu quả của việc cắt lương thay cho quá trình xử lý kỷ luật lao động, theo khoản 4 của Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, biện pháp cụ thể là buộc người sử dụng lao động phải hoàn trả lại số tiền đã khấu trừ hoặc thanh toán đủ mức lương cho Người lao động.
Bài viết liên quan: Bị trừ lương do đi muộn, không được trả lương làm thêm giờ có phạm luật?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Có được trừ lương người lao động để bồi thường cho công ty không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!