1. Quy định chung của bộ luật tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015. Bộ luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Bộ luật gồm 517 điều, được bố cục thành 10 phần, 42 chương. So với Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (sau đây gọi là BLTTDS năm 2011), BLTTDS năm 2015 giữ nguyên 63 điều; sửa đổi, bổ sung 350 điều; bổ sung mới 104 điều; bãi bỏ 07 điều. Với nhiều quy định mới, quan trọng liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng ; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, các nhân khi tham gia tố tụng như sau:

2. Lịch sử phát triển pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Luật tố tụng hình sự nước ta trải qua quá trình phát triển lâu dài, nhiều sử liệu cho phép khẳng định sự tồn tại của luật tố tụng hình sự trong chế độ phong kiến. Tuy nhiên, luật tố tụng hình sự với tư cách là ngành luật độc lập như hiện nay thì chưa có ở giai đoạn lịch sử đó. Các quy định của luật tố tụng hình sự được ban hành lẫn trong các quy định của luật hình sự, đất đai, hôn nhân và gia đình.

Các triều đại phong kiến nước ta đã sử dụng triệt để luật tố tụng hình sự để bảo vệ lợi ích của mình. Hình thư triều Lý, Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ... đều chứa đựng các quy định về tố tụng như:

“Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng hay có thù oán thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ẩy giấu giếm ra làm chứng thì bị ghép vào tội không nói đúng sự thực. Hình quan, ngục quan biết điều đó mà dung túng việc đó đều bị íợỉ”.

Hay khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem. xét kĩ, tìm ra sự thực để cho người phạm tội phải nhận tội; không được hỏi quá rộng tìm đến người ngoài để tìm chứng cứ bậy; nếu trái điều này thì xử tội phạt. Ngoài ra, Quốc triều hình luật còn quy định về thủ tục xét xử, thời hạn xét xử và thủ tục thi hành án. Điều 658 Quốc triều hình luật quy định:

“Những tù bị giam, kẻ nào đáng giam mà không giam, đảng gông cùm mà không gông cùm; hay cho bỏ cùm, nếu tù phạm tội biếm thì người coi tù bị phạt 60 trượng; nếu kẻ phạm tội đồ trở lên thì sẽ xử tăng dần một bậc. Những tù phạm không đảng giam mà giam, không đáng gông cùm mà gông cùm thì người coi tù bị phạt 70 trượng”.

Trong Hoàng Việt luật lệ cũng chứa đựng các quy phạm luật tố tụng hình sự. Điều này chứng tỏ triều đình nhà Nguyễn cũng coi trọng hình thức tổ chức kiện tụng, xét xử.

Trong thời kì thuộc địa, pháp luật nước ta chịu sự ảnh hưởng của pháp luật phong kiến và pháp luật tư sản của Pháp. Chính vì lẽ đó đã có sự phân định các ngành luật. Luật tố tụng hình sự đ-

(l).Xem: Điều 714 Quốc triều hĩnh luật. ược pháp điển hoá và được thực hiện cho đến năm 1945. Ở Nam kì, Bộ luật hình sự tố tụng của Pháp được áp dụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người Pháp. Nếu bị can, bị cáo là người Việt Nam thì toà án cũng áp dụng Bộ luật này đồng thời áp dụng bổ sung một số quy định trong các sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Tại Bắc kì trong thời kì này áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành ngày 01/11/1918 và tại Trung kì áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành vào năm 1935.

2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

Luật tố tụng hình sự Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám đã có những quy định về tố tụng hình sự. Ví dụ: Chỉ thị ngày 16/4/1945 của Tổng bộ Việt Minh quy định về lề lối làm việc của tiểu ban tư pháp và thẩm quyền xét xử của các tiểu ban này. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo đảm cho việc xử lí tội phạm được kịp thời, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 quy định việc thành lập toà án quân sự và được bổ sung bằng sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946. Trong đó có quy định: "Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử các tội phạm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Trong khi tiến hành xét xử, các toà án quân sự đã quán triệt chính sách trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục và cải tạo. Ban đầu, việc xét xử những vụ án hình sự thường do Ủy ban nhân dân đảm nhiệm. Sau đó theo sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, các vụ án này do toà án thường xét xử với sự tham gia của phụ thẩm nhân dân. sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đổi tên toà án thường thành toà án nhân dân V.V..

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ở miền Bắc việc xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong đó có pháp luật tố tụng hình sự được quan tâm. Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng về tự do dân chủ như Luật số 103 SL/L005ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân. Năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và hệ thống các toà án địa phương, Viện công tố trung ương cùng hệ thống viện công tố các cấp. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành. Chế độ bầu cử thẩm phán thay thế chế độ chính phủ bổ nhiệm thẩm phán.

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1988

Ở miền Nam sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc lệnh số 01 SL/76 ngày 15/3/1976 về tổ chức toà án nhân dân.

Khi Việt Nam thống nhất về mặt nhà nước thì hệ thống toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân trong cả nước được tổ chức, hoạt động theo Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức toà án nhân dân ban hành năm 1960. Năm 1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới. Trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức toà án nhân dân và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981 thay thế Luật tổ chức toà án nhân dân và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Các văn bản pháp luật trên đã góp phần khắc phục nhũng thiếu sót, hạn chế trong việc giải quyết vụ án hình sự.

2.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện ưên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với những kết quả đã đạt được, thực tế cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình tố tụng ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố và xét. xử. Các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Chính vì vậy, việc ban hành BLTTHS là vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Ke thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự nước ta từ Cách mạng tháng Tám đến nay với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, ngày 28/6/1988 tại kì họp thứ ba, Quốc hội n- ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII đã thông qua BLTTHS. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989. Để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm xử lí công minh, kịp thời tội phạm và người phạm tội.

Trên tinh thần lấy dân làm gốc, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ’xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lí kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội, BLTTHS năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều (lần thứ nhất - BLTTHS đã được bổ sung thêm ba điều mới là Điều 42a quy định về người bảo vệ quyền lợi của đương sự; Điều 168a quy định về thời hạn hoãn phiên toà và Điều 215a quy định về việc toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và sửa đổi, bổ sung 35 điều trong tổng số 286 điều luật.) tại kì họp thứ bảy Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII và thông qua vào ngày 30/6/1990. Với những sửa đổi lần này, Bộ luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, đề cao vai trò của các tổ chức xã hội và công dân trong tố tụng hình sự, kết hợp sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Sau một thời gian thi hành, căn cứ vào thực tiễn tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và Hiến pháp năm 1992, để khắc phục những vướng mắc và thiếu sót trong quy định của BLTTHS đối với việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX tại kì họp thứ hại đã quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ hai) vào ngày 22/12/1992 cho phù hợp với tình hình mới và nguyện vọng của nhân dân, đồng thời phù hợp với Hiến pháp năm 1992 (BLTTHS đã được bổ sung thêm ba điều mới là: Điều 143a quy định về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Điều 143b quy định về đình chi hoặc tạm đình chi vụ án; Điều 160a quỵ định về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm và sửa đổi bể sung 5 điều luật).

Với sự ra đời của BLHS (được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000), nhiều quy định của BLTTHS hiện hành liên quan không còn phù hợp nữa. Do vậy, ngày 09/6/2000 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ ba - BLTTHS đã được bổ sung thêm hai điều mới là Điệu lOa quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và Điều 234a quy định về thi hành hình phạt trục xuất. Bỏ các điều khoản sau: Các khoản 3, 4 Điều 145 quy định về thẩm quyền xét xử của toà án các cấp; Điều 160a quy định về thành phần xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm; điểm a khoản 1 Điêu 226 quy định vê những bản án và quyết định được thỉ hành. Sửa đổi, bổ sung 21 điều luật và sửa đổi một số điều khoản của BLHS năm 1985 thành điều khoản tương ứng của BLHS năm 1999 đợc viện dẫn trong BLTTHS. Sau ba lần sửa đổi, BLTTHS năm 1988 gồm 293 điều) nhằm thi hành BLHS năm 1999 cũng như phù hợp với tiến trình dân chủ và đổi mới của đất nước. BLTTHS lần này chỉ tập trung vào một số những quy định nhằm thực hiện BLHS năm 1999; giải quyết một số vấn đề bức xúc cần khắc phục trong quá trình tố tụng nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS lần này “dựa trên nguyên tắc không hạn chế quyền của bị can, bị cảo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mớí”.w

Qua gần 15 năm thi hành với ba lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 là căn cứ pháp lí để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, góp phần bảo đảm việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có cải cách tư pháp, BLTTHS năm 1988 không còn phù hợp nữa và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã tạo sự thay đổi, chuyển biến lớn về hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói riêng. Cùng với sự đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp, đổi mới hoạt động của cơ quan điều ưa, viện kiểm sát và toà án ưong tố tụng hình sự là một ưong những nhân tố đột phá quan ưọng thúc đây quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bố cục như sau:

- Phần thứ nhất: Những quy định chung gồm có 8 chương (từ Điều 1 đến Điều 142) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; những nguyên tắc cơ bản; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; chứng minh và chứng cứ; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng.

- Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự gồm có 9 chương (từ Điều 143 đến Điều 235) quy định về khởi tố vụ án hình sự; những quy định chung về điều tra vụ án hình sự; khởi tố và hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất, nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết ưên thân thể, thực nghiệm điều tra; giám định và định giá tài sản; biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; tạm đình chỉ điều ưa và kết thúc điều ưa.

- Phần thứ ba: Truy tố gồm có 2 chương (từ Điều 236 đến Điều 249) là những quy định chung và quyết định việc truy tố bị can.

- Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự gồm có 3 chương (từ Điều 250 đến Điều 362) là những quy định chung; xét xử sơ thẩm; xét xử phúc thẩm.

- Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của tòa án gồm có 2 chương (từ Điều 363 đến Điều 369) quy định về bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án; một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù có điều kiện trước thời hạn, xoá án tích.

- Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã cỏ hiệu lực pháp luật gồm có 3 chương (từ Điều 370 đến Điều 412) quy định về thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm; thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

- Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt gồm 7 chương (từ Điều 413 đến Điều 490) quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi; thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; xử lí các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; bảo vệ người tổ giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

- Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế gồm có 2 chương (từ Điều 491 đến Điều 508) là những quy định chung và một sổ hoạt động hợp tác quốc tế;

- Phần thứ chín: Điều khoản thi hành (Điều 509 và Điều 510).

Mọi vướng mắc pháp lý về tố tụng hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê (biên tập)