1. Bố mẹ đánh đập con cái có phạm tội không ?

Chào Luật sư, Mong luật sư tư vấn giúp tôi một vấn đề như sau: Tôi đã học hết trương trình đai học, hiện đang tìm kiếm việc làm, trong thời gian xin việc có rất nhiều khó khăn, gia đình (gồm: bố mẹ, anh trai, vợ và con gái) không động viên để tôi tìm việc làm. Do mẫu thuẫn gia đình, vợ chồng tôi không chung sống với nhau nữa nên đã làm đơn xin ly hôn và đã được toà án chấp nhận. Trong quá trình nuôi con, tôi đã cố hết sức để nuôi con và chu cấp cho con gái. Không những gia đình tôi không động viên giúp đỡ mà còn làm nhục tôi rất nhiều lần.
Lần điển hình nhất là anh trai tôi đã đuổi đánh và dùng hung khí đánh tôi. Tôi bị trọng thương phải nhập viện. Sau vụ việc như vậy đã làm ảnh hưởng đến công việc nuôi con gái và sức khỏe của tôi. Sau này bố mẹ người đẻ ra tôi không an ủi để tôi tiếp tục công việc nuôi con gái mà còn cố ý gây thương tích trên cơ thể tôi bằng việc dùng những vật sắc nhọn, điển hình dao, kéo, xích hăm dọa, đánh đập làm chảy máu, dùng vật làm từ sắt để giam cầm.
Theo ý kiến luật sư những hành vi làm nhục trên cơ thể con người có đáng kết tội không ? Nếu đúng người đúng tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội có tổ chức làm ảnh hưởng đến đời sống, làm nhục người khác không ? Có đáng lên án và xét xử hay không ?
Mong hồi âm sớm từ luật sư. Tôi chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi : 1900.6162

Trả lời:

1. Các hành vi bạo lực gia đình là gì ?

Theo Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 thì các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Hành vi bạo lực như trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.

=> Theo như bạn trình bày thì hành vi của gia đình bạn (bố mẹ, anh trai bạn) là một trong các hành vi bạo lực gia đình được quy định trong Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007.

2. Bạo lực gia đình có khởi tố hình sự được không khởi tố như thế nào ?

Căn cứ và tính chất, mức độ của hành vi mà bố mẹ và anh trai bạn sẽ phải chịu mức xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính thì mức phạt được cụ thể hóa trong Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì nếu đánh đập, gây thương tích cho bố mẹ và những người khác trong gia đình thì sẽ bị xử phạt về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình theo quy định tại Điều 49 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình thì sẽ bị phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Đồng thời, hành vi thường xuyên chửi bới, lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình thì sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình theo quy định tại Điều 51 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Trường hợp hành vi có tính chất nghiêm trọng tỷ lệ thương tật trên 11% hoặc dưới 11% nhưng có dùng hung khí thì cấu thành tội phạm có thể bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác, tội hành hạ người khác… Theo đó, hình phạt với các tội này có thể là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn.

3. Tội cố ý gây thương tích và các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích là như thế nào ?

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, theo đó, các yếu tố cấu thành tội này bao gồm mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể, cụ thể mặt khách quan của tội phạm này là như sau:

- Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

- Công cụ, phương tiện sử dụng: Nếu người phạm tội sử dụng các phương tiện có tính nguy hiểm cao như: lựu đạn, súng, chất nổ, dao găm… phần nào đó có thể xác định người phạm tội mong muốn cho nạn chết. Ngược lai, nếu người phạm tội không lựa chọn hoặc chỉ lựa chọn loại phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng thì phần nào không mong muốn nạn nhân chết. Vì vậy, dựa vào việc người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe.

- Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích , tổn hại sức khỏe: trên thực tế khi muốn tước đoạt sinh mạng của ai đó thì người phạm tội sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ, vùng bụng…kết hợp việc sử dụng công cụ, phương tiện nếu là công cụ, phương tiện ít nguy hiểm, cùng với việc tấn công vào những nơi được coi là không xung yếu trên cơ thể, có thể xác định là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe mà không phải là hành vi giết người.

- Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh không? Nếu cường độ tấn công không mạnh và những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân, khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

- Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác thể hiện ở tỷ lệ thương tật ( tỷ lệ %) mất sức lao động của nạn nhân.

Chủ thể của tội phạm: Là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

Khách thể của tội phạm: Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

4. Tội hành hạ người khác và các yếu tố cấu thành tội hành hạ người khác là như thế nào ?

Tội hành hạ người khác là hành vi đối xử tàn ác như gây đau đớn về thể xác, đè nén, áp bức về tinh thần người bị lệ thuộc. Tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khỏe, tự do, danh dự của người bị lệ thuộc.

Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khoẻ, tự do, danh dự của người được bảo hộ.

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Ngoài việc phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể của tội phạm này phải là người có quan hệ lệ thuộc với nạn nhân, như quan hệ thầy trò, quan hệ công tác (thủ trưởng với nhân viên)….

Mặt khách quan của tội phạm: Cấu thành tội phạm của tội này chỉ đòi hỏi người phạm tội có hành vi đối xử tàn án với người lệ thuộc vào mình. Đối xử tàn ác, được hiểu là hành vi gây ra sự đau đớn về thể xác (và tinh thần) đối với nạn nhân dưới các hình thức như đánh đập, bỏ đói, có hoặc không kèm theo việc chửi mắng thậm tệ. Tuy nhiên việc đối xử tàn ác phải chưa đạt đến mức độ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ. Và việc đối xử tàn ác thông thường phải lặp đi lặp lại và kéo dài trong một thời gian nhất định.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội hành hạ người khác được thực hiện với lỗi cố ý. Nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

=> Như vậy, để bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp của mình bạn nên làm hồ sơ trình báo công an điều tra hình sự cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để được giải quyết kịp thời.

Hồ sơ bao gồm:

- Đơn trình báo công an (theo mẫu)

- Chứng minh thư nhân dân (bản sao công chứng)

- Sổ hộ khẩu (bản sao công chứng)

- Những chứng cứ khác kèm theo (ví dụ hình ảnh, video, ghi âm….về hành vi phạm tội của những người thực hiện tội phạm, chứng cứ về thương tật của người bị hại…..)

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ba nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng trong tình yêu ? Đánh ghen có phạm pháp ?

2. Chửi mắng, cầm dao đuổi đánh bà và mẹ phạm tội gì ?

Thưa luật minh khuê Chuẩn là cô bé 15 tuổi trọng một gia đình tại vùng nông thôn. Hôm nay cháu có câu hỏi muốn hỏi luật. Khác với những gia đình khác nếu với bạo lực gia đình thì thường là bố đánh mẹ nhưng với gia đình cháu thế khác hoàn toàn. Đó là một gia đình bạo lực gia đình bởi người ông nội 77 tuổi.

Ông hay đánh mắnh chửi rủa gia đình cháu nhất bảo là lúc không có bố cháu ở nhà. Nhiều lấn ông dùng dao, kéo định đâm mẹ cháu khi mang thai. Và còn rất nhiều lần nha ông cầm dao đuổi đánh bà và mẹ cháu. Ông suốt ngày chửi mắng mọi người trong gia đình vậy trang web có thể giúp cháu nếu như kiện ông thì có được không ạ. Ông chịu hình phạt gì ạ. Nếu ông cháu 77 ly hôn với bà cháu 74 tuổi thì có được không ạ và nếu được thì có chia tài sản không ạ ?

Xin trân thành cảm ơn web.

- Nguyễn Thị Ánh

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp thì ông nội 77 tuổi của bạn đã có những lời lẽ chửi thề, chửi tục, đánh chửi mắng, sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kéo đối với bà và mẹ bạn, hành vi này là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác và được coi là làm nhục người khác. Tuy nhiên việc xử lý đối với hành vi này còn phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Cụ thể:

Rõ ràng rằng, hành vi đánh đập mẹ của bạn nhiều lần trong một khoảng thời gian dài như vậy được coi là hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007:

“a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng”.

Vậy nên, bà và mẹ bạn thuộc nhóm đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Với những thông tin mà bạn cung cấp thì ông nội bạn dù đã được mọi người khuyên ngăn nhưng vẫn tiếp tục có những hành vi bạo hành với mẹ bạn, cho thấy khả năng cảm hóa, thay đổi hành vi của ông nội bạn 77 tuổi là không khả quan. Vậy nên, trong trường hợp này để phòng ngừa và tránh việc người thân của bạn trở thành nạn nhân của các hành vi bạo lực gia đình thì bạn và gia đình có thể thực hiện một trong số các biện pháp sau:

+ Thứ nhất, trước tiên, gia đình có thể làm đơn yêu cầu hoặc gửi đơn đề nghị đến Hội liên hiệp phụ nữ cấp xã, phường nơi có hành vi bạo lực gia đình làm đơn yêu cầu với xác nhận để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 điều 20 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Cụ thể, theo quy định tại điều 8 Nghị định 08/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì:

“Biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây:

1. Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m; trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân.

2. Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân.”

+ Thứ hai, nếu ông nội 77 tuổi rồi không có sự thay đổi, bạn và gia đình có thể làm đơn yêu cầu hoặc đề nghị Hội liên hiệp phụ nữ cấp xã, phường nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình làm đơn yêu cầu với xác nhận để đề nghị Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng theo quy định tại Điều 21 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007.

Về vấn đề trách nhiệm của ông bạn, như đã phân tích ở trên, ông bạn đã có hành vi bạo lực gia đình là đánh đập bà và mẹ bạn, vậy nên có thể sẽ phải chịu xử phạt hành chính hoặc nặng hơn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định về mức xử phạt hành chính đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình như sau:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”

Mức xử phạt này sẽ được áp dụng đối với lần đầu tiên hành vi bạo lực gia đình của ông bạn bị xử lý về mặt hành chính.

Ngoài ra, theo Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm….”

Vậy nên, nếu hành vi bạo lực của ông bạn thỏa mãn đủ các dấu hiệu để cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như trên thì hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Có thể thấy, rõ ràng hành vi đánh đập mẹ của em là hành vi phạm pháp luật và tuy theo mức độ cũng như hậu quả của hành vi mà ông nội 77 tuổi bạn sẽ phải chịu những hình thức xử lý thích đáng.

Về nguyên tắc chia tài sản sau khi ly hôn

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Như vậy, tài sản vợ chồng sau khi ly hôn được chia như sau:

Trước hết dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên.

Nếu không thỏa thuận được thì: Đối với tài sản riêng của ai thì sẽ thuộc về người đó; Đối với tài sản chung thì thông thường sẽ được chia đôi.

Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân được chia như sau:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Phải làm thế nào khi bố đánh đập mẹ ? Xử lý hành vi bạo lực gia đình như thế nào ?

3. Đánh vợ thì chồng có bị đi tù không ?

Thưa Luật sư, cho em hỏi vợ chồng đánh nhau và trong lúc bỏ chạy người vợ bị té gãy xương chân phải mổ bắt vít. Bây giờ người nhà của vợ đòi bồi thường 120 triệu nếu không sẽ kiện ra tòa. Trường hợp này nếu kiện thì người chồng có bị đi tù không ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn !

Đánh vợ, vợ bỏ chạy ngã gãy xương thì chồng có bị đi tù không ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Việc người chồng có bị phạt tù không ?

Về việc vợ chồng đánh nhau, chồng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cái chân bị gãy của vợ. Bởi lẽ, trong trường hợp này hành vi của người chồng không có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại của người vợ. Cụ thể,việc người chồng và người vợ đánh nhau không có mối quan hệ nhân quả với việc vợ bị gãy chân phải bắt vít.

Người chồng sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với thương tích của người vợ nếu trong quá trình đánh nhau với vợ, người chồng trực tiếp gây thương tích cho người vợ với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên. Hoặc dưới 11% nhưng thuộc vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 . Cụ thể là:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

E) Có tổ chức;

G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.".

Trường hợp này cần phải xác định người vợ bị thiệt hại với tỷ lệ thương tật là bao nhiêu % mới có thể xác định được người chồng có phải chịu phạt tù không; mức phạt tù của người cho là bao nhiêu.

Việc người vợ yêu cầu 120 triệu bồi thường.

Việc đưa ra yêu cầu bồi thường chỉ hợp lý và có căn cứ khi việc người chồng đánh vợ gây ra những thiệt hại về sức khỏe cho người vợ. Đối với cái chân gãy của vợ, chồng không phải bồi thường do không có mối quan hệ nhân quả giữa việc người chồng đánh vợ và việc người vợ bị gãy chân do người vợ bị gãy chân do bị ngã trong lúc bỏ chạy.

Theo quy định tại điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.".

Tuy nhiên, mức tiền 120 triệu đồng đã hợp lý chưa cần phải xem xét những yếu tố trên theo điều 609 Bộ luật dân sự 2005.

Như vậy, trường hợp này người chồng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bạo lực gia đình.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Hành vi đánh ghen lột đồ người khác sẽ bị xử lý như thế nào ?

4. Đánh phụ nữ và trẻ em có bị tăng nặng trách nhiệm hình sự không ?

Luật Minh Khuê xin tư vấn cho em về vấn đề sau: Nếu cố ý gây thương tích cho phụ nữ và trẻ em có bị truy cứu trách nhiệm khác không ạ? Và việc bồi thường thiệt hại được thực hiện như thế nào ?

Luật sư tư vấn:

- Căn cứ vào Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác như sau:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

- Trong đó, hung khí nguy hiểm được quy định tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao như sau:

"Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

a. Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt..."

- Như vậy, trong trường hợp của bạn, hành vi người khác dùng giày cao gót cố ý gây thương tích cho bạn theo Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 thì giày cao gót không được coi là hung khí nguy hiểm.

- Trong trường hợp này, bạn đã tố cáo hành vi của người cố ý gây thương tích cho bạn với cơ quan công an có thẩm quyền thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hành giải quyết vụ việc. Trước hết, với hành vi gây rối trật tự, đánh nhau, người bị tố cáo có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, bạn là người bị hại, bạn có quyền yêu cầu bồi thường dân sự hoặc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích. Về vấn đề giám định thương tật phải do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thực hiện theo trình tự, thủ tục.

- Về mức xử phạt hành chính đối với hành vi gây rối trật tự công cộng trong trường hợp của bạn được quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;"

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự, bạn có thể thỏa thuận với người gây thương tích về mức bồi thường; hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc; phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần. Việc xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

- Trong trường hợp người gây thương tích không thực hiện trách nhiệm bồi thường, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã nơi bị đơn cư trú. Căn cứ vào Khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện như sau:

"4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện."

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Khi bị đánh có khởi kiện được không ? Đánh ghen khi nào thì vi phạm pháp luật ?

5. Chú ruột đánh cháu vô cớ thì bị xử phạt như thế nào ?

Thưa luật sư! Cháu đi làm cho mẹ cháu về thì bị chú ruột (em trai ruột của bố cháu) xông vào đánh rồi chửi bới, vu khống cho cháu. Đấm vào mặt (2 bên má) và vào mắt cháu (mắt cháu bị cận). Luật sư cho cháu hỏi,cháu có thể làm đơn kiện được không ạ? Và nếu kiện được thì chú cháu sẽ bị tội như thế nào ạ?
Mong nhận được tư vấn từ luật sư. Cháu cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

1. Hành vi đánh người gây thương tích dưới 11% bị phạt hành chính như thế nào ?

Theo như bạn nêu thì bị chú ruột xông vào đánh nên sẽ căn cứ vào mức độ thương tật mà hành vi của chú bạn gây ra mà sẽ có mức xử phạt khác nhau. Nếu tỉ lệ thương tật dưới 11% thì chú bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP là phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình; Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
Đồng thời, bên cạnh việc bị xử phạt vi phạm hành chính, chú bạn còn buộc phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.

2. Hành vi đánh người gây thương tích tỷ lệ thương tật trên 11% thì mức phạt tù sẽ như thế nào ?

Ở trên, bạn chưa nói rõ ra là chú bạn có dùng hung khí để đánh bạn hay không nhưng nếu chú bạn có dùng hung khí mà theo đề nghị của bên bị hại là bạn hoạc mẹ bạn hoặc do yêu cầu từ phía công an điều tra mà giám định tỉ lệ thương tật nếu trên 11% thì sẽ thuộc trường hợp khởi tố hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, tại khoản này thì thuộc trường hợp khởi tố hình sự theo yêu càu của người bị hại hay nói cách khác bị hại có đơn thì mới ra quyết định khởi tố vụ án. Ngoài ra nếu tỷ lệ thương tật trên 11% mà có dùng hung khí hoặc dùng tay không mà trên 30% thì không thuộc trường hợp khởi tố hình sự theo yêu cầu của người bị hại.

3. Các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ của người khách là như thế nào ?

Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

- Công cụ, phương tiện sử dụng: Nếu người phạm tội sử dụng các phương tiện có tính nguy hiểm cao như: lựu đạn, súng, chất nổ, dao găm… phần nào đó có thể xác định người phạm tội mong muốn cho nạn chết. Ngược lai, nếu người phạm tội không lựa chọn hoặc chỉ lựa chọn loại phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng thì phần nào không mong muốn nạn nhân chết. Vì vậy, dựa vào việc người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe.

- Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích , tổn hại sức khỏe: trên thực tế khi muốn tước đoạt sinh mạng của ai đó thì người phạm tội sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ, vùng bụng…kết hợp việc sử dụng công cụ, phương tiện nếu là công cụ, phương tiện ít nguy hiểm, cùng với việc tấn công vào những nơi được coi là không xung yếu trên cơ thể, có thể xác định là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe mà không phải là hành vi giết người.

- Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh không? Nếu cường độ tấn công không mạnh và những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân, khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

- Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác thể hiện ở tỷ lệ thương tật ( tỷ lệ %) mất sức lao động của nạn nhân.

Chủ thể của tội phạm: Là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

Khách thể của tội phạm: Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

4. Mức bồi thường thiệt hại cho bên bị hại sẽ là như thế nào ?

Bên cạnh việc phải chịu trách nhiệm hình sự thì người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích còn phải thực hiện việc bồi thường cho phía bên bị hại theo quy định tại Bộ Luật dân sự 2015, cụ thể bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nên làm gì khi bị người khác đánh đập ? Bố mẹ đánh con có bị xử phạt không ?