Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), việc bổ nhiệm một số chức danh trong bộ máy nhà nước phải được sự phê chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều 7, Điều 84 Hiến pháp 1992 quy định: Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ.

1. Bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan nhà nước

Bầu cử thường được áp dụng trong trường hợp cần trao cho công dần đảm nhiệm một chức vụ, chức danh nhất định trong một thời gian nhất định (theo nhiệm kì). Chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân trên đây và cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển.

Việc tuyển dụng công chức được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật;

- Bảo đảm tính cạnh tranh;

- Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm;

- Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.

Người được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng. Thời gian tập sự được quy định từ 6 đến 12 tháng tùy theo loại công chức. Hết thời gian tập sự, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng công chức đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức và kết quả công việc của người đó; nếu đạt yêu cầu của ngạch công chức đang tập sự thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lí công chức quyết định bổ nhiệm và xếp lương cho công chức được tuyển dụng. Trường hợp người tập sự không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị xử lí kỉ luật trong thời gian tập sự thì quyết định tuyển dụng bị hủy bỏ.

2. Quy định về đánh giá cán bộ, công chức

Đánh giá cán bộ, công chức là hoạt động được tiêh hành hàng năm, trước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiêm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, kết thúc nhiệm kì, kết thúc thời gian luân chuyển đối vói cán bộ và trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, kết thúc thời gian luân chuyển, thòi gian biệt phái đối với công chức. Mục đích đánh giá cán bộ, công chức được xác định là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỉ luật và thực hiện chính sách đối vói cán bộ, công chức. Việc đánh giá cán bộ do cơ quan quản lí cán bộ thực hiện; việc đánh giá .công, chức do-người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng công đặc biệt, góp phần quyết định vào việc nâng cao hiệu lực của Nhà nước. Hoạt động này được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lí của Nhà nước.

- Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.

- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiêm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng.

- Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành cỗng vụ.

- Thực hiện bình đẳng giới.

Pháp luật hiên hành quy định khá chi tiết về nội dung quản lí cán bộ, công chức. Đó là những hoạt động sau đây:

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức.

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch cán bộ, công chức.

- Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ.

- Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế.

- Các công tác khác liên quan đến quản lí cán bố, côrig chức do Luật cán bộ, công chức quy định.

Việc quản lí cán bộ do bầu cử được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

Việc quản lí thẩm phán, kiểm sát viên được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức toà án nhân dân, Pháp lênh về thẩm

+ Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Những nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ là những nghĩa vụ được quy định cụ thể, gắn trực tiếp với công việc, nhiệm vụ được giao, đó là:

+ Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiêm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

+ Có ý thức tổ chức kỉ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước;

+ Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, đơn vị;

+ Bảo vệ, quản lí và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao;

+ Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản vói người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyểt định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định.

+ Các nghĩa vụ khác do pháp luật quy định.

- Những việc cán bộ, công chức không được làm bao gồm những nghĩa vụ liên quan đến đạo đức công vụ, những nghĩa vụ liên quan đến bí mật nhà nước và những nghĩa vụ liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự. Cụ thể là:

+ Liên quan đến đạo đức công vụ: cán bộ, công chức không được trốn tránh trách nhiêm, thoái thác nhiệm vụ; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; tác phí và các chế độ khác; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi khi làm việc ở vùng, miền có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật.

- Quyền về nghỉ ngơi: được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định cùa pháp luật về lao đông. Trường hợp không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm do yên cầu nhiệm vụ thì được thanh toán tiền cho những ngày không nghỉ.

- Các quyền khác: được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hôi, bảo hiểm y tế; nếu bị thương hoặc hi sỉnh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhân là liệt sĩ...

3. Điều kiện xét tuyển công chức

Theo quy định tại Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tuyển dụng công chức phải căn cứ vào phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng, phù hợp với ngành, nghề tuyển dụng.

Cũng theo quy định này, việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển trừ trường hợp người có đủ điều kiện để trở thành công chức và cam kết tình nguyện làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số… từ 05 năm trở lên thì được xét tuyển.

Do đó, theo Luật Cán bộ, công chức hiện đang có hiệu lực chỉ có duy nhất 01 trường hợp nêu trên được xét tuyển vào công chức.

Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực từ 01/7/2020 đã bổ sung thêm 02 trường hợp được tuyển dụng thông qua xét tuyển gồm:

- Người học theo chế độ cử tuyển nêu tại Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học;

- Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.

Trong đó, theo Điều 87 Luật Giáo dục có hiệu lực cùng thời điểm với Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức, chế độ cử tuyển áp dụng với người dân tộc thiểu số rất ít người, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít công chức là người dân tộc thiểu số.

Đồng thời, khoản 3 Điều 87 Luật Giáo dục có quy định:

Người học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học, được xét tuyển và bố trí việc làm

Có thể thấy việc bổ sung thêm 02 trường hợp xét tuyển vào công chức đã tạo sự đồng bộ giữa các quy định và cũng tạo điều kiện cho các đối tượng này được phát huy năng lực, trình độ của mình.

Như vậy, hiện nay chỉ có 01 trường hợp duy nhất được xét tuyển vào công chức. Tuy nhiên, từ 01/7/2020, khi Luật sửa đổi Luật Cán bộ công chức có hiệu lực, sẽ có thêm 02 trường hợp nữa cũng được xét tuyển công chức.

4. Điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức

Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:

- Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;

- Từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;

- Có đơn đăng ký dự tuyển;

- Có lý lịch rõ ràng;

- Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm;

- Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

- Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật.

** Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

- Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.

5.. Hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức:

- Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư 15/2012/TT-BNV

- Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển;

- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt;

- Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe;

- Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức (nếu có) được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)