1. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định cụ thể các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự năm 2015, nội dung chi tiết như sau:

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  • Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  • Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

Có rất nhiều quan điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong khoa học pháp lý thế giới, có nhiều học thuyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hình thành, phát hiển qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau. 

 

2. Quan điểm của thuyết cổ điển về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Những người theo thuyết cổ điển cho rằng, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi) mới có trách nhiệm dân sự”.

Theo học thuyết này, người bị thiệt hại muốn được bồi thường thì phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Những tư tưởng trong học thuyết này còn tồn tại cho đến tận ngày nay và được cụ thể hóa trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có Việt Nam trước đây. "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại".

Thực tế cho thấy, học thuyết này chỉ phù họp với trường họp bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Tuy nhiên, học thuyết này cũng có những hạn chế mà nếu không khắc phục được sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Bởi vì, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, sự kiện gây thiệt hại xảy ra nhưng người bị thiệt hại không thể chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra mà không một chủ thể nào có lỗi. Do đó, “nếu buộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân”.

Hiện nay quan điểm lập pháp trong Bộ luật dân sự năm 2015 dường như chống lại quan điểm cổ điển này.

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi hay do tài sản gây ra đều không phụ thuộc vào điều kiện lỗi, tức là người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có thiệt hại xảy ra, có nguyên nhân gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả là đã có thể yêu cầu người gây thiệt hại hoặc người có liên quan phải bồi thường thiệt hại.

 

3. Quan điểm của người theo học thuyết trách nhiệm khách quan (lý thuyết rủi ro)

Theo quan điểm của những người theo học thuyết trách nhiệm khách quan (lý thuyết rủi ro), chỉ cần có thiệt hại xảy ra, có hành vi hoặc hoạt động của tài sản gây ra thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả thì người bị thiệt hại đã có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không cần chứng minh lỗi của người phải bồi thường.

Do đó, học thuyết này gắn liền với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Những người ủng hộ cho học thuyết này thường đưa ra nhiều lý do để bảo vệ, và một trong những lý do có tính thuyết phục nhất đó là “lý do công bằng xã hội”.

Đây không phải là học thuyết mới xuất hiện trong pháp luật dân sự hiện đại, mà nó xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, “khi một sự tổn hại đã do một súc vật hay một người nô lệ gây nên, người chủ phải chịu trách nhiệm”. Cho đến ngày nay, học thuyết này vẫn tồn tại và được nhiều luật gia, học giả, nhà nghiên cứu thừa nhận, ủng hộ cho học thuyết này, một số luật gia của Pháp đã căn cứ vào các án lệ của Pháp để khẳng định rằng “trách nhiệm do tác động của các vật vô tri phải là một trách nhiệm khách quan rõ rệt không căn cứ vào quá thất (lỗi)”.

Khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, quan điểm của nhiều học giả Việt Nam cũng phù hợp với học thuyết này khi cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra không cần điều kiện về lỗi.

Như vậy, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ cần 3 điều kiện sau đây:

  • Có thiệt hại thực tế xảy ra;
  • Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.

Quan điểm này không chỉ được thể hiện khi nghiên cứu tổng thể các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, mà khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, những người theo quan điểm này cũng khẳng định “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm không cần điều kiện lỗi”

Trên cơ sở những phân tích ở trên có thể thấy rằng, trong khoa học pháp lý thế giới vẫn còn tồn tại các học thuyết đối lập nhau về TNBTTH ngoài hợp đồng. Mặc dù vậy, mỗi học thuyết đều dựa trên nền tảng những lý luận vững chắc và vẫn được áp dụng ở các quốc gia khác nhau cho đến tận ngày này.

4. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam

Thông qua quá trình lập pháp dân sự ở Việt Nam, có thể nhận thấy việc xây dựng chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không định hình trên một học thuyết cụ thể, mà dường như dựa trên nền tảng của các học thuyết khác nhau.

Thông qua quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, trong đó khoản 2 Điều 584 đưa ra hai căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó đều thể hiện người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi (thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại).

Điều này cho thấy, nếu người gây thiệt hại có lỗi sẽ không được loại trừ trách nhiệm bồi thường (tức là lỗi vẫn được coi là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại).

Tuy vậy, theo nguyên tắc giảm mức bồi thường được quy định tại khoản 2 Điều 585 có thể thấy, việc người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại “không có lỗi” chỉ là một trong các điều kiện để có thể xem xét giảm mức bồi thường chứ không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường (tức là chủ thể phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi, hay lỗi không phải là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).

5. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có cần yếu tố lỗi không?

- Theo điều điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định "Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại" như sau:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Theo như bộ luật trước "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại" chỉ được xác định khi đạt đủ các điều kiện của điều luật.

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự trước, về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

a. Phải có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm.. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.

b. Phải có hành vi trái pháp luật.

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.

c. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

d. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

- Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

Nhưng theo điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định "Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại" ta đã nêu ở trên không còn điều kiện lỗi của người gây thiệt hại.

Trân trọng!