Mục lục bài viết
1. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định như thế nào?
Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:a) Làm chết 02 người trở lên;b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
(Ảnh minh họa)
2. Bình luận
Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; khoản 2 quy định các trường họp phạm tội tăng nặng và khoản 3 quy định khung hình phạt bổ sung.
2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là chủ thể đặc biệt. Người phạm tội này chỉ có thể là những người đang thi hành công vụ. Trong đó, “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, qưyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác...) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội” Họ là người do tính chất công việc được giao nên được phép dùng vũ lực trong những trường họp nhất định để thực hiện nhiệm vụ của mình. Công dân tự nguyện tham gia vào việc bảo vệ trật tự, trị an (như đuổi bắt người phạm tội) cũng được xem như người thi hành công vụ.
Là người có năng lực TNHS và đủ tuổi theo luật quy định. Họ là những người đang thi hành công vụ nói chung, đó là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, những công dân được huy động làm nhiệm vụ như: tuần tra, canh gác, bảo vệ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền hoặc công dân, vì lợi ích chung của xã hội mà đã sử dụng một loại công cụ nào đó để giúp sức người thi hành công vụ ngăn chặn hoặc đuổi bắt người phạm tội, do đó xâm phạm tính mạng của người khác thì cũng được coi là người thi hành công vụ.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
2.2 Khách thể của tội phạm
Làm chết người trong khi thi hành công vụ là hành vi của người trong quá trình thực hiện công vụ của mình đã làm cho người khác bị chết do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Tội phạm trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người.
Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định là hành vi dùng vũ lực (để thực hiện công vụ) ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Thông thường, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Để xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần căn cứ vào Điều 23 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017. Điều luật này xác định cụ thể các trường hợp được nổ súng vào đối tượng ngay lập tức hoặc sau khi đã cảnh báo bằng mệnh lệnh lời nói hoặc bắn chỉ thiên. Ví dụ: Người thi hành nhiệm vụ độc lập được nổ súng vào đối tượng không cần cảnh báo trong trường hợp đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, vũ lực đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người thi hành công vụ hoặc người khác; hoặc đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội khủng bố, giết người, bắt cóc con tin hoặc đang trực tiếp sử dụng vũ khí, vật liệu nổ chống lại việc bắt giữ khi vừa thực hiện xong hành vi phạm tội đó V.V.. hoặc người thi hành nhiệm vụ độc lập được nổ súng vào đối tượng sau khi đã cảnh báo bằng mệnh lệnh lời nói hoặc bắn chỉ thiên trong trường hợp đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ hoặc công cụ, phương tiện khác tấn công hoặc chống trả đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác V.V..
Những hành vi dùng vũ khí ngoài những trường hợp mà Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 cho phép đều bị coi là hành vi dùng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép và có thể trở thành hành vi khách quan của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ.
2.3 Mặt khách quan của tội phạm
Tội phạm được thể hiện ở hành vi làm chết người do họ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất trực tiếp tác động vào thân thể người khác gây nên những hậu quả nhất định. Các hình thức dùng vũ lực như dùng vũ khí hoặc tay chân đấm, đá…Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nạn nhân là người đang có hành vi xâm phạm đến lợi ích mà người phạm tội có nhiệm vụ bảo vệ.
Việc đánh giá dùng vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép phải căn cứ vào các quy định cụ thể về sử dụng vũ khí…hoặc đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể dùng hung khí khác nhau…
Trong thực tế, hành vi dùng vũ lực trong khi thi hành công vụ thường kèm theo việc sử dụng các loại vũ khí. Pháp luật cho phép người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực trong một số trường hợp nhất định. Khoản 7 Điều 14 Luật Công an nhân dân quy định: cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân “được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cần thiết để chủ động tấn công tội phạm và phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật”. Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 30/6/2011. Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã quy định cụ thể trường hợp người công vụ được nổ súng. Hành vi của người thi hành công vụ sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp quy định, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ.
Trong trường hợp đang thi hành công vụ, lại coi thường tính mạng của người khác, sử dụng súng vô nguyên tắc bắn chết người dù là người đang thi hành công vụ vẫn phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS năm 2015.
Tội phạm được thể hiện ở hành vi làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất trực tiếp tác động vào thân thể người khác gây nên những hậu quả nhất định. Các hình thức dùng vũ lực như dùng vũ khí hoặc tay chân đấm, đá… Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nạn nhân là người đang có hành vi xâm phạm đến lợi ích mà người phạm tội có nhiệm vụ bảo vệ.
Việc đánh giá dùng vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép phải căn cứ vào các quy định cụ thể về sử dụng vũ khí… hoặc đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể dùng hung khí khác nhau.
Trên thực tế, hành vi dùng vũ lực trong khi thi hành công vụ thường kèm theo việc sử dụng các loại vũ khí. Pháp luật cho phép người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực trong một số trường hợp nhất định. Khoản 7 Điều 14 Luật Công an nhân dân quy định: cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân “được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cần thiết để chủ động tấn công tội phạm và phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật”. Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, Nghị định số 79/2018/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã quy định cụ thể trường hợp người thi hành công vụ được nổ súng. Hành vi của người thi hành công vụ sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật quy định, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ.
Trong trường hợp đang thi hành công vụ, lại coi thường tính mạng của người khác, sử dụng súng vô nguyên tắc bắn chết người thì dù là người đang thi hành công vụ vẫn phạm tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS.
2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Động cơ phạm tội là hành động vì lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Dấu hiệu hậu quả của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định là hậu quả chết người. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra khi hậu quả chết người và hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép mà họ đã thực hiện có QHNQ với nhau.
Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý (dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép).
Dấu hiệu động cơ phạm tội
Động cơ phạm tội được quy định là động cơ thi hành công vụ vì lợi ích chung.
Như vậy, những hành vi xâm phạm tính mạng người khác do hống hách, coi thường tính mạng của người khác hoặc do tư thù đều không thuộc hành vi phạm tội của tội phạm này.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Làm chết 02 người trở lên: Đây là trường họp phạm tội đã gây ra hậu quả chết nhiều người, trong cùng một lần hoặc trong các lần khác nhau.
- Nạn nhân là người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt hơn. Đó là người dưới 16 tuổi hoặc là phụ nữ có thai. Theo điều luật, chủ thể phải biết việc có thai của nạn nhân.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê
.jpg)