1. Khái niệm hiếp dâm

Hiếp dâm là hành vi của một người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân ngoài ý muốn của họ.
Hiếp dâm là tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phụ nữ.

2. Tội hiếp dâm quy định trong Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 141. Tội hiếp dâm
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tĩnh trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tĩnh dục khác trái với ỷ muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giảo dục, chữa bệnh;
c) Nhiều người hiếp một người;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Có tính chất loạn luân;
g) Làm nạn nhân có thai;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
i) Tải phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gãy thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhãn mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%) trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Phạm tội đoi với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hĩnh phạt quy định tại các khoản đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đen 05 năm.

Bóp cổ ép quan hệ có phải là hiếp dâm hay không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

3. Bình luận về tội hiếp dâm

Điều luật gồm 5 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội hiếp dâm; các khoản 2, 3, 4 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 5 quy định khung hình phạt bổ sung.

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Điều luật không mô tả dấu hiệu đặc biệt của chủ thể của tội hiếp dấm. Theo đó, chủ thể của tội này là chủ thể bình thường và thèo quy định của Điều 12 BLHS, chủ thể có thể là người từ đủ 14 tuổi trở lên khi hành vi phạm tội thuộc các khoản 2, 3 và 4 của điều luật hoặc phải là người đủ 16 tuổi trở lên khi hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật. Tuy nhiên, theo quan niệm truyền thống và thực tiễn xét xử trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì chủ thể của tội này được xác định là chủ thể đặc biệt. Dấu hiệu đặc biệt ở đây là dấu hiệu về giới tính. Chủ thể của tội hiếp dâm chỉ có thể là nam giới. Nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ đồng phạm hiếp dâm với vai trò là người xúi giục, người giúp sức hay người tổ chức. Với việc mở rộng phạm vi hành vi khách quan của tội hiếp dâm cũng như để phù hợp với quy định của điều luật, quan niệm hiện nay về chủ thể của tội hiếp dâm có thể được thay đổi.

3.2 Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này được quy định là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác.
Xét theo đúng nghĩa, hành vi khách quan của tội hiếp dâm có thể là hành vi giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ hoặc là hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái ý muốn của họ. Đe thực hiện được một trong hai hành vi này, chủ thể phải sử dụng một trong bốn thủ đoạn đã được quy định. Trong đó có hai thủ đoạn thể hiện là hành vi cụ thể. Đó là hành vi dùng vũ lực và hành vi đe dọa dùng vũ lực. Từ đó cũng có thể hiểu hành vi khách -quan của tội hiếp dâm có thể là:
+ Hành vi dùng vũ lực và hành vi giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ;
+ Hành vi dùng vũ lực và hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái với ý muốn của họ;
+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực và hành vi giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ;
+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực và hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái với ý muốn của họ;
+ Hành vi giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân;
+ Hành vi giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn khác;
+ Hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc
+ Hành vi quan hệ tình dục khác với người khác trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn khác.
Để hiểu các hành vi khách quan trên đây, cần thống nhất một số nội dung sau:
+ Hành vi giao cấu là dạng hành vi thông thường của hành vi quan hệ tình dục (hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ). Trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, hành vi khách quan của tội hiếp dâm được giới hạn chỉ là hành vi giao cấu. BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi hành vi khách quan của tội phạm này. Theo đó, các hành vi quan hệ tình dục khác cũng thuộc hành vi khách quan của tội hiếp dâm. Dấu hiệu hành vi khách quan của tội hiếp dâm chỉ đòi hỏi hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác được thực hiện mà không đòi hỏi hành vi này phải két thúc về mặt sinh lý.
+ Trái với ý muốn của người khác (khi thực hiện hành vi giao Cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác) có nghĩa: Người khác không chấp nhận hoặc không có ý muốn của người khác vì họ đang trong tình trạng không thể biểu lộ được ý chí.
+ Thủ đoạn dùng vũ lực được hiểu là thủ đoạn dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại hành vi của người phạm tội như xô ngã, vật, giữ, bóp cổ nạn nhân...
+ Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực được hiểu là thủ đoạn làm ý chí của người phụ nữ bị tê liệt không chống lại hành vi của người phạm tội như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhân.
+ Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của người khác được hiểu là thủ đoạn lợi dụng người khác vì lý do nào đó không thể chống lại hành vi của người phạm tội như lợi dụng người khác đang trong tình trạng ốm đau...
+ Thủ đoạn khác được hiểu là những thủ đoạn (ngoài ba thủ đoạn trên) giúp cho người phạm tội có thể thực hiện được hành vi của mình. Những thủ đoạn đó, theo thực tiễn xét xử có thể là thủ đoạn lợi dụng người khác đang trong tình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn được. Vỉ dự. Lợi dụng người khác đang trong tình trạng bị say rượu nặng hoặc đang trong tình trạng bị bệnh tâm thần... Tình trạng này có thể không do nhưng cũng có thể do chính người phạm tội chủ động tạo ra. Vỉ dự. Người phạm tội chủ động cho nạn nhân uống rượu say để sau đó thực hiện hành vĩ giao cấu hay hành vi quan hệ tình dục với họ.

3.3 Về khách thể

Tội hiếp dâm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục của mình là trái ý muốn người khác nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên.
- Dấu hiệu nạn nhân cùa tội phạm
Từ bình luận về chủ thể của tội hiếp dâm theo đúng quy định của điều luật, có thể suy ra nạn nhân của tội phạm này có thể là nữ hoặc nam. Khoản 1 của điều luật không trực tiếp xác định độ tuổi của nạn nhân nhưng từ nội dung khoản 4 của điều luật cũng như từ nội dung Điều 142 BLHS có thể xác định, nạn nhân của tội hiếp dâm là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Người dưới 16 tuổi chỉ có thể là nạn nhân của tội hiếp dâm trẻ em (Điều 142 BLHS).
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (cho trường hợp nạn nhân từ đủ 18 tuổi trở lên). Khung hình phạt cho trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được quy định tại khoản 4 của điều luật.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường họp đồng phạm hiếp dâm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- (Phạm tội) đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh: Đây là trường họp phạm tội mà giữa người phạm tội và nạn nhân có quan hệ đặc biệt với nhau. Trong đó, người phạm tội là người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho nạn nhân. Trách nhiệm này có thể phát sinh từ những cơ sở pháp lý khác nhau, có thể do có quan hệ gia đình, do nghề nghiệp của người phạm tội hoặc do có quan hệ hợp đồng.
- Nhiều người hiếp một người: Đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm trong đó có nhiều người có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với cùng một nạn nhân. Hiếp dâm có tổ chức và nhiều người hiếp một người tuy đều là đồng phạm nhưng một trường hợp đòi hỏi là đồng phạm có tổ chức còn một trường hợp đòi hỏi phải có nhiều người cùng là người thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Đây là trường hợp chủ thể đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau đối với cùng 01 nạn nhân hoặc đối với các nạn nhân khác nhau.
- (Phạm tội) đối với 2 người trở lên: Đây là trường họp chủ thể phạm tội đối với nhiều nạn nhân khác nhau.
- (Phạm tội) có tính chất loạn luân: Đây là trường hợp giữa người phạm tội và nạn nhân có quan hệ cùng dòng máu về trực hệ hoặc có quan hệ là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha và mối quan hệ đặc biệt này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội nên cũng làm tăng trách nhiệm hình sự.
- (Phạm tội) làm nạn nhân có thai: Đây là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì nạn nhân còn phải chịu thêm tác động tâm lý nhìn chung là không tích cực do việc mang thai.
- Gãy thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc gãy rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì hành vi phạm tội còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của nạn nhân.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.(131) Tình tiết nhân thân này của chủ thể làm tăng trách nhiệm hình sự của họ.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên: Đây là trường họp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì hành vi phạm tội còn xâm phạm rất nghiêm trọng đến sức khỏe của nạn nhân.
- (Người phạm tội) biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tĩnh dục: Đây là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì hành vi phạm tội còn có thể làm cho nạn nhân bị lây nhiễm HIV, đe dọa đến tính mạng của họ.
- (Phạm tội) làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân chết là trường họp hiếp dâm đã gây ra hậu quả nạn nhân chết và lỗi của người phạm tội đối với hậu quả này là lỗi vô ý. Nếu người phạm tội có lỗi cố ý đối với hậu quả chết người thì hành vi phạm tội của họ cấu thành tội giết người (Điều 123 BLHS) và tội hiếp dâm. Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân tự sát là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm nên đã có hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình. Giữa việc bị hiếp dâm và việc tự sát có moi QHNQ với nhau.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt cho trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có mức phạt tù 05 năm đến 10 năm. Khung hình phạt này chỉ được áp dụng khi không có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2, khoản 3 của điều luật. Khi có tình tiết này thì áp dụng khoản 2 hoặc khoản 3.
Khoản 5 của điều luật quy định hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê